THIÊN CHÚA MỞ HUYỆT MỘ – TGM Giu-se Vũ Văn Thiên
TGM Giu-se Vũ Văn Thiên
Trong bất cứ nền văn hóa nào, cái chết luôn là một kinh nghiệm đau thương nhất của kiếp người. Cái chết chia lìa người thân, chấm dứt mọi kế hoạch và dự tính cho tương lai. Người đã chết nhanh chóng rơi vào quên lãng, ngay cả đối với những người thân của mình. Ở mọi thời đại, các nền văn hóa và tín ngưỡng đều tìm kiếm câu trả lời cho ý nghĩa cuộc đời cũng như tương lai con người sau khi đã chết.
Vào thế kỷ thứ Sáu trước Công nguyên, khi dân Do Thái đang bị phát lưu đi đày ở Ba-by-lon, ngôn sứ Ê-dê-ki-en đã gửi đến cho họ một thông điệp hy vọng: Thiên Chúa sẽ mở nấm huyệt mộ cho dân và đem họ về đất Ít-ra-en, tức là về quê cha đất tổ. Trong bối cảnh cụ thể của thời lưu đầy, hành động “mở huyệt” của Thiên Chúa có nghĩa là Ngài giải phóng họ khỏi cảnh lưu đày tha hương. Những người Do Thái khi nghe lời ngôn sứ Ê-dê-ki-en, chắc chắn liên tưởng tới cuộc giải phóng vĩ đại Thiên Chúa đã thực hiện để đưa dân tộc họ ra khỏi Ai-cập, sau hơn bốn trăm năm sống cảnh nô dịch tại xứ người. Đó cũng sẽ là thời mà Thiên Chúa khôi phục truyền thống huy hoàng đã mất do cuộc lưu đày.
Sự can thiệp của Thiên Chúa không chỉ là giải phóng dân Do Thái khỏi cảnh lưu đày, mà còn đổi mới tâm hồn của họ. Hãy nghe ngôn sứ nói: “Ta sẽ đặt thần khí của Ta vào trong các ngươi và các ngươi sẽ được hồi sinh… bấy giờ các ngươi sẽ nhận biết chính Ta là Đức Chúa.” Nhờ quyền năng của Thiên Chúa, người Do Thái được về lại cố hương, đồng thời cũng được canh tân để mang một tâm hồn mới, dồi dào ân sủng và niềm vui của Thần Khí. Một dân tộc đã thực sự hồi sinh!
Thiên Chúa, Đấng đã giải phóng dân Do Thái khỏi ách nô lệ Ai Cập, và đã dẫn dân lưu đày từ Ba-by-lon về lại quê hương. Vị Thiên Chúa ấy đã thực hiện những điều vĩ đại qua Đức Giê-su. Phép lạ làm cho ông La-da-rô đã chết bốn ngày sống lại đã chứng minh quyền năng của Thiên Chúa. Nơi Đức Giê-su, những gì các ngôn sứ loan báo trong Cựu ước đã trở thành hiện thực. Người không chỉ mở huyệt mộ cho một cá nhân là ông La-da-rô, nhưng cho cả nhân loại đang nằm dưới ách của bóng tối tội lỗi và của sự chết. Hơn nữa, ông La-da-rô được Chúa Giê-su cho sống lại, rồi sau này cũng phải chết. Nhân loại đang đi trong tối tăm của nấm mồ được Chúa Giê-su cứu rỗi sẽ không phải chết, như lời Chúa nói: “Tôi là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào tôi, thì dù đã chết, cũng sẽ được sống. Ai sống và tin vào tôi, sẽ không bao giờ phải chết” (Ga 11,25-26). Những ai tin vào Người, sẽ được hưởng sự sống vĩnh cửu. Dù sự chết vẫn hiện hữu, dù thân xác vẫn mục nát trong nấm mồ, nhưng những ai tin vào Chúa sẽ được sống lại trong ngày phán xét, và họ sẽ được hưởng sự sống đời đời.
Những lời đối đáp giữa Chúa Giê-su và bà Mác-ta, không đơn thuần chỉ là cuộc đối đáp giữa hai cá nhân, mà là cuộc đối đáp giữa Ki-tô giáo và các nền văn hóa ở mọi thời đại. Quả vậy, theo quan niệm thông thường, thì một người chết đã được chôn bốn ngày rồi, thì xác bắt đầu phân hủy và rất nặng mùi, không nên mở huyệt ra. Tuy vậy, đối với quyền năng của Thiên Chúa, La-da-rô vẫn có thể sống lại. Tin vào Chúa là tin một điều không thể lại trở thành có thể. Hai mươi thế kỷ đã qua, trong bất kỳ nền văn hóa nào, Giáo Hội Ki-tô luôn khẳng định: Đức Giê-su đã sống lại từ cõi chết, và những ai tin vào Chúa, Người sẽ cho sống lại để hưởng hạnh phúc trường sinh.
Dưới ngòi bút của tác giả Tin Mừng, nhân tính của Chúa Giê-su được diễn tả cách rõ nét. Người đã rơi lệ trước cái chết của một người bạn. Người xót xa trước nỗi khổ của tang quyến. Chúng ta có thể thấy sự cảm thương của Chúa Giê-su ở những nơi khác trong Phúc âm: khi chứng kiến đám tang của người thanh niên, là con duy nhất của một người đàn bà góa (x. Lc 7,11-17); khi thấy nỗi đau của cha mẹ có đứa con gái vừa chết (Mt 9,18-26); và trước đám đông đi theo Người ba ngày trong hoang địa mà không có gì ăn (x. Mt 14,13-21). Đức Giê-su là Đấng Thiên sai. Người diễn tả lòng thương xót của Thiên Chúa trong lời giáo huấn, qua các phép lạ và trong mọi hành vi cử chỉ thường ngày. Đó là hình ảnh một Thiên Chúa cảm thông với nỗi đau của con người, và ra tay cứu giúp họ.
Giữa cuộc sống còn nhiều bon chen lận đận, chúng ta đôi khi bị giam hãm trong những “ngôi mộ” là tính ích kỷ, những đam mê, những hận thù nhỏ nhen toan tính… Mùa Chay mời gọi chúng ta bước ra khỏi nấm mồ, nhờ quyền năng của Thiên Chúa. Thánh Phao-lô quảng diễn: con người chúng ta luôn bị xác thịt chi phối. Để làm đẹp lòng Chúa, chúng ta phải biết làm chủ những ước muốn của chúng ta, và điều khiển chúng theo cách phù hợp với ý Chúa. Thánh nhân cũng nói đến cái chết thiêng liêng, tức là phạm tội. Khi phạm tội, là chúng ta chết về phần linh hồn; khi hòa giải với Chúa (qua thiện chí sám hối và Bí tích Hòa Giải), chúng ta được sống lại với Đức Giê-su, nhờ tác động của Chúa Thánh Thần.
“Từ vực thẳm, con kêu lên Chúa… ” (Đáp ca). Lời Thánh vịnh nói lên thân phận bi thảm của con người. Lời ấy cũng diễn tả niềm hy vọng vào lòng từ bi của Chúa. Chính Người sẽ giải thoát chúng ta và sẽ mở huyệt mộ cho chúng ta.
TGM Giu-se Vũ Văn Thiên
From: Langthangchieutim
NHÀ THỜ TRUYỀN TIN – VIÊN NGỌC CÔNG GIÁO BỊ LÃNG QUÊN, BỊ CHIẾM DỤNG TRÊN ĐƯỜNG PHỔ QUANG, TÂN BÌNH, SÀI GÒN
NHÀ THỜ TRUYỀN TIN – VIÊN NGỌC CÔNG GIÁO BỊ LÃNG QUÊN, BỊ CHIẾM DỤNG TRÊN ĐƯỜNG PHỔ QUANG, TÂN BÌNH, SÀI GÒN
Giữa dòng xe cộ hối hả của đường Phổ Quang, phường 2, quận Tân Bình, TP. Hồ Chí Minh ngày nay, có một góc khuất mà ít ai để ý: một ngôi thánh đường Công Giáo nhỏ bé, cổ kính, nằm lặng lẽ bên cạnh doanh trại quân đội (nay là Quân khu 7). Từ sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, ngôi nhà thờ này bị chiếm dụng, đóng cửa kín mít, khuôn viên từng là nơi cầu nguyện thiêng liêng nay trở thành bãi đậu xe tải của ngành điện lực, cỏ dại mọc um tùm, tường vôi loang lổ, mái ngói phủ bụi thời gian. Nhiều người Sài Gòn sinh ra sau 1975, sống ngay quanh khu vực này, thậm chí đi qua hàng trăm lần, vẫn không biết đây là nhà thờ gì, thuộc Tin Lành hay Công Giáo. Tra Google Maps hay tìm kiếm trên mạng, kết quả gần như bằng không – như thể ngôi thánh đường này đã bị lịch sử xóa sổ khỏi ký ức tập thể.
Nhưng với những bậc tiền bối Bắc di cư năm 1954 còn sống sót quanh giáo xứ Tân Sa Châu, Bùi Phát (vùng Ông Tạ xưa), họ vẫn nhớ rõ như in: Đây chính là Nhà Thờ Truyền Tin – một trong những nhà thờ Công Giáo quan trọng nhất phục vụ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa (QLVNCH) thời chiến tranh. Tên gọi “Truyền Tin” lấy từ mầu nhiệm Lễ Truyền Tin (Annunciation) – ngày Sứ Thần Gabriel truyền tin cho Đức Maria rằng Bà sẽ mang thai Con Thiên Chúa. Ngôi nhà thờ được xây dựng để dành riêng cho các linh mục tuyên úy dâng Thánh Lễ, chăm sóc đời sống thiêng liêng cho hàng ngàn quân nhân đóng quanh phi trường Tân Sơn Nhất, Bộ Tổng Tham Mưu (TTM), và các đơn vị binh chủng Truyền Tin, Không Quân, cùng gia đình họ ở khu gia binh gần đó.
Lịch sử xây dựng và những năm tháng huy hoàng
Ngôi nhà thờ được khởi công vào những năm đầu thập niên 1960, thuộc giáo khu Truyền Tin, giáo xứ Tân Sa Châu, dưới sự quản lý của Tổng Giáo phận Sài Gòn. Viên đá đầu tiên được đặt vào dịp Noel, ngày 23 tháng 12 năm 1961, và hoàn thành chỉ trong vòng chưa đầy một năm – ngày 13 tháng 8 năm 1962. Ban đầu, một số người gọi là “Nhà Thờ Không Quân” vì khu vực phi trường Tân Sơn Nhất lúc ấy chỉ có nhà thờ Công Giáo này phục vụ quân nhân. Sau đó đổi tên thành Nhà Thờ Truyền Tin vì nằm sát khu vực binh chủng Truyền Tin và cư xá gia binh Truyền Tin.
Người trực tiếp đảm trách và góp phần lớn vào việc xây dựng là Linh mục Phan Phát Huồn, dòng Chúa Cứu Thế (DCCT). Cha Huồn sinh ngày 5 tháng 10 năm 1926 tại họ đạo Thợ Đúc, giáo xứ Trường An, Hương Thủy, Huế. Năm mới 11 tuổi (1937), ngài đã vào tu tại Dòng Chúa Cứu Thế – một quyết định dấn thân sớm lạ thường. Khấn dòng năm 1948, thụ phong linh mục ngày 27 tháng 6 năm 1955. Từ năm 1957, cha được chọn tham gia ngành Tuyên Úy Công Giáo Quân Lực VNCH, với cấp bậc cao nhất là Trung tá Tuyên úy, Phó Giám đốc Nha Tuyên Úy Công Giáo QLVNCH.
Không chỉ là linh mục tuyên úy, cha Huồn còn là một sử gia Công Giáo lỗi lạc. Tác phẩm đồ sộ nhất của ngài là bộ “Việt Nam Giáo Sử” (2 tập, xuất bản năm 1965 bởi Cứu Thế Tùng Thư tại Sài Gòn) – một công trình nghiên cứu công phu, chi tiết về lịch sử Giáo Hội Công Giáo Việt Nam từ thời khai phá đến thế kỷ 20. Sau 1975, sách được tái bản tại Mỹ. Ngoài ra, cha còn làm Chủ bút Nguyệt san Tinh Thần, Giám đốc Chương trình Phát thanh Nha Tuyên Úy, mở trường Trung Tiểu học Tinh Thần, Trung Tiểu học Truyền Tin, Trung Tiểu học Lê Văn Duyệt… để chăm lo giáo dục cho con em quân nhân.
Thánh Lễ tại Nhà Thờ Truyền Tin thường diễn ra vào sáng Chúa Nhật, do các linh mục tuyên úy luân phiên chủ tế, nổi bật là cha Nguyễn Ái (người gốc Huế, cấp bậc trung úy, sau là trung tá). Cha Ái có người em là linh mục Nguyễn Ân (cấp bậc đại tá). Không khí thánh đường lúc ấy tràn đầy hy vọng, tiếng kinh nguyện hòa lẫn tiếng máy bay cất cánh từ Tân Sơn Nhất, tiếng cầu xin bình an giữa bom đạn chiến tranh.
Sau 1975: Bi kịch chiếm dụng và lãng quên
Ngày 30/4/1975, mọi thứ thay đổi. Như bao cơ sở tôn giáo, quân sự của chế độ cũ, Nhà Thờ Truyền Tin bị nhà nước tiếp nhận. Khuôn viên bị biến thành nhà kho chứa thiết bị, vật tư điện lực cao thế. Xe tải điện lực đậu kín sân, cổng khóa chặt, không còn tiếng chuông, không còn Thánh Lễ. Người coi sóc cuối cùng cũng đã qua đời. Hầu hết quân nhân, gia đình từng tham dự lễ ở đây nay đã cao niên, phần lớn định cư nước ngoài theo diện HO hoặc các chương trình khác.
Riêng cha Phan Phát Huồn, như bao tuyên úy và quân nhân khác, phải trải qua 13 năm tù cải tạo (1975–1988), từ Nam chí Bắc: Tam Hiệp, Thanh Phong, Nam Hà… Ngài được thả tự do năm 1988, định cư tại Hoa Kỳ năm 1992 theo diện HO. Tại Mỹ, cha tiếp tục sinh hoạt trong Dòng Chúa Cứu Thế hạt Long Beach, làm Đặc trách Nhà dòng, Chủ bút Nguyệt san Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp (tái bản sau khi bị đình bản tại Việt Nam), Giám đốc Chương trình Phát thanh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp, Linh hướng chương trình truyền hình Ánh Sáng Niềm Tin… Cha qua đời ngày 16 tháng 10 năm 2015 tại Mỹ, để lại di sản tinh thần lớn lao.
Gần 50 năm trôi qua: Di sản vẫn chưa được trả lại
Gần nửa thế kỷ, tài sản của Giáo Hội vẫn nằm trong tay nhà nước, chưa được trả lại để giáo dân tu sửa, biến nơi đây thành chốn thờ phượng. Khu vực Phổ Quang xưa kia có hai địa điểm tôn giáo phục vụ quân nhân VNCH: Nhà Thờ Truyền Tin và Chùa Phổ Quang. Chùa Phổ Quang đã được trả lại cho Giáo hội Phật giáo Việt Nam, trùng tu khang trang, trở thành điểm hành hương đẹp đẽ. Còn Nhà Thờ Truyền Tin thì vẫn im lìm, hoang phế, như một vết thương chưa lành của lịch sử.
Nhà Thờ Truyền Tin không nằm trong danh sách thái “giao tặng” lại một số cơ sở tôn giáo cho Giáo phận Sài Gòn. Thiết nghĩ, Tòa Tổng Giám mục Sài Gòn nên có những động thái cụ thể, khẩn thiết hơn: gửi văn bản chính thức, vận động, đối thoại để đòi lại ngôi thánh đường này. Kẻo để lâu, công trình sẽ hư hại hoàn toàn – mái sụp, tường đổ, và lặp lại bi kịch của không ít nhà thờ, cơ sở tôn giáo khác trong lịch sử đau thương sau 1975.
Đây không chỉ là một ngôi nhà thờ nhỏ trên đường Phổ Quang. Đây là di sản thiêng liêng, là ký ức của biết bao người đã từng quỳ gối cầu nguyện giữa khói lửa chiến tranh, là nơi cha Phan Phát Huồn – một linh mục, một sử gia, một tuyên úy – đã dâng hiến tuổi trẻ và cả cuộc đời cho đức tin và quê hương. Và quan trọng hơn, đây là lời nhắc nhở về công bằng, về quyền tự do tôn giáo, về việc trả lại những gì thuộc về Giáo Hội.
Lm. Anmai, CSsR
PS : Linh mục Phan Phát Huồn cũng chính là người sáng lập Giáo xứ Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp Xóm Mới.
SỐNG NHỮNG PHÚT CUỐI NGÀY TRONG TINH THẦN CÁNH CHUNG-Lm. Anmai, CSsR
SỐNG NHỮNG PHÚT CUỐI NGÀY TRONG TINH THẦN CÁNH CHUNG
Kinh Thánh nhắc nhở chúng ta một lời vừa ngắn gọn vừa đầy sức lay động: “Thời gian chẳng còn bao lâu” (1 Cr 7,29). Đó không phải là một lời làm ta hoảng sợ, nhưng là một tiếng chuông thức tỉnh. Cuộc đời này không kéo dài mãi. Lịch sử thế giới rồi cũng sẽ đi tới hồi viên mãn, khi Thiên Chúa hoàn tất mọi sự và quy tụ vạn vật trong Đức Kitô. Tuy nhiên, cũng chính Kinh Thánh lại dạy rằng: “Đối với Chúa, một ngày ví thể ngàn năm, ngàn năm cũng tựa một ngày” (2 Pr 3,8). Nghĩa là con người không thể dùng đồng hồ của mình để đo lường chương trình của Thiên Chúa. Ta không biết ngày tận thế đến khi nào. Ta cũng không biết giờ phút nào đời mình sẽ khép lại. Điều duy nhất ta biết chắc, đó là ngày ấy sẽ đến.
Chính vì thế, Hội Thánh thật khôn ngoan khi mỗi năm đều dành những tuần cuối năm phụng vụ, đặc biệt là tuần XXXIII Thường niên, để hướng lòng con cái mình về thực tại cánh chung. Đây là thời gian của tỉnh thức. Đây là thời gian của hồi tâm. Đây là thời gian để mỗi người tự hỏi: nếu hôm nay là ngày cuối cùng của đời tôi, tôi có sẵn sàng chưa? Nếu đêm nay Chúa gọi tôi ra khỏi thế gian này, lòng tôi sẽ thế nào? Bình an hay bối rối? Tín thác hay sợ hãi? Gần Chúa hay xa Chúa?
Nhiều người khi nghe nói đến ngày cùng tận thường nghĩ đến những biến động lớn lao của vũ trụ, những hình ảnh kinh hoàng, những biến cố chấn động. Nhưng thật ra, đối với mỗi người, ngày cánh chung gần gũi nhất không hẳn là ngày tận thế của toàn cầu, mà là giờ phút cuối cùng của chính đời mình. Thế giới có thể còn tiếp tục, nhưng đời tôi thì không kéo dài vô tận. Vì thế, vấn đề không phải là đoán khi nào tận thế xảy ra, nhưng là học cách sống sao cho mỗi ngày, nhất là mỗi buổi tối, đều trở thành một cuộc chuẩn bị âm thầm mà nghiêm túc cho cuộc gặp gỡ sau cùng với Chúa.
Cuối ngày là một khoảnh khắc rất đặc biệt. Sau bao bận rộn, tiếng động, công việc, lo toan, con người trở về với chính mình. Bóng chiều buông xuống như nhắc rằng một ngày đã qua và sẽ không bao giờ trở lại. Mỗi buổi chiều là một hình ảnh nhỏ của đời người. Sáng là tuổi trẻ, trưa là trưởng thành, chiều là tuổi xế bóng, và đêm là lúc mọi sự đi vào thinh lặng. Nếu biết sống giây phút cuối ngày với tâm tình đức tin, ta sẽ nhận ra rằng đó không chỉ là lúc nghỉ ngơi của thân xác, mà còn là giờ linh thiêng để dọn tâm hồn.
Có biết bao người sống rất kỹ cho ngày mai, nhưng lại quá hời hợt với phần rỗi đời đời. Người ta biết khóa cửa nhà trước khi ngủ, biết sạc điện thoại, chuẩn bị quần áo, lên kế hoạch công việc, nhưng nhiều khi lại quên dọn lòng mình trước mặt Chúa. Người ta sợ một đêm mất trộm, nhưng lại không sợ một linh hồn nguội lạnh. Người ta cẩn thận với sức khỏe thể lý, nhưng lại dễ dãi với đời sống thiêng liêng. Trong khi đó, có một sự thật không thể chối cãi: không ai biết mình còn thức dậy vào sáng hôm sau hay không. Nói điều ấy không phải để gieo buồn phiền, nhưng để giúp ta sống sâu hơn, thật hơn, và khôn ngoan hơn.
Những phút cuối ngày vì thế không nên bị bỏ trôi trong vô thức. Đó phải là lúc ta trở về trước mặt Chúa, lặng lẽ nhìn lại một ngày đã sống. Hôm nay tôi đã yêu thương thế nào? Tôi đã nói những lời nào làm người khác được nâng đỡ, và những lời nào làm người khác bị tổn thương? Tôi đã trung thành với bổn phận ra sao? Tôi đã sống gần Chúa hay để mình trôi dạt giữa quá nhiều bận tâm? Tôi có cố chấp, ghen ghét, kiêu ngạo, ích kỷ không? Tôi có bỏ lỡ những cơ hội làm điều tốt không? Một ngày qua đi không chỉ là thêm một ô trên tờ lịch bị xé bỏ. Một ngày qua đi là một phần đời không thể lấy lại. Mỗi buổi tối là lúc ta đặt phần đời vừa sống ấy vào tay Chúa.
Xét mình cuối ngày là một việc đạo đức rất đơn sơ nhưng vô cùng sâu sắc. Đó không phải là lúc tự dằn vặt mình, cũng không phải là lúc chỉ ngồi đếm lỗi để rồi thất vọng. Xét mình là đứng trong ánh sáng của Thiên Chúa mà nhìn lại chính mình. Trong ánh sáng ấy, ta thấy cả hai điều: tội lỗi của mình và lòng thương xót của Chúa. Ta thấy mình yếu đuối, nhưng cũng thấy Chúa vẫn kiên nhẫn đợi chờ. Ta thấy mình đã có lúc nguội lạnh, nhưng cũng thấy ơn Chúa vẫn âm thầm nâng đỡ mình suốt ngày qua. Người tín hữu chân thành không kết thúc ngày sống bằng mặc cảm, nhưng bằng sự khiêm nhường và tín thác. Họ biết nói với Chúa: “Lạy Chúa, hôm nay con còn thiếu sót nhiều, nhưng con xin trở về với Ngài. Xin tha thứ, thanh tẩy và gìn giữ con trong tình yêu của Chúa.”
Đẹp biết bao khi một Kitô hữu đi vào giấc ngủ với một linh hồn đã được hòa giải. Đẹp biết bao khi trước khi nhắm mắt, ta kịp nói một lời cảm ơn vì mọi ơn lành nhận được, một lời xin lỗi vì những vấp ngã, một lời phó thác cho đêm tối sắp đến. Đó là cách sống những phút cuối ngày trong tinh thần cánh chung. Không phải sống trong lo âu, nhưng trong tỉnh thức. Không phải trong ám ảnh, nhưng trong bình an. Không phải trong nỗi sợ bị phán xét, nhưng trong niềm hy vọng được gặp Đấng mình yêu mến.
Thật ra, ai sống tốt phút cuối ngày thì cũng sẽ sống tốt phút cuối đời. Người nào mỗi tối đều biết trở về với Chúa, người ấy sẽ không quá bỡ ngỡ khi một ngày nào đó phải trở về với Chúa mãi mãi. Người nào tập sống trong ánh sáng sự thật từng ngày, người ấy sẽ không quá hoảng hốt khi đứng trước ánh sáng vĩnh cửu. Cái chết, đối với người sống trong ân sủng, không còn chỉ là một kết thúc, nhưng là cuộc vượt qua. Không còn chỉ là mất mát, nhưng là cuộc gặp gỡ. Không còn chỉ là đóng lại một cánh cửa, nhưng là mở ra một quê hương.
Bởi vậy, những phút cuối ngày mang một giá trị thiêng liêng rất lớn. Đó là lúc ta học buông bỏ những gì không cần thiết. Một ngày sống qua đi cho ta thấy rõ hơn biết bao điều mình tưởng quan trọng thật ra rất chóng qua. Những bực bội, tranh chấp, tự ái, ganh đua, hơn thua… đến cuối ngày nhìn lại, nhiều khi chỉ là bụi nhỏ. Trước mặt Thiên Chúa, chỉ còn điều quan trọng nhất: tôi đã yêu mến Ngài và yêu thương anh em đến đâu. Càng gần đêm, tâm hồn càng được mời gọi sống đơn sơ hơn. Và chính trong sự đơn sơ ấy, ta chạm được điều cốt lõi của Tin Mừng.
Tuần XXXIII Thường niên và những ngày cuối năm phụng vụ vì thế không muốn làm ta sợ hãi về ngày tận thế, nhưng muốn dạy ta nghệ thuật sống mỗi ngày như một hồng ân và mỗi buổi tối như một cuộc chuẩn bị. Ai biết sống như thế sẽ không phung phí đời mình. Họ không trì hoãn việc hoán cải. Họ không nói: mai tôi sẽ cầu nguyện hơn, mai tôi sẽ tha thứ, mai tôi sẽ sửa mình, mai tôi sẽ sống tử tế hơn. Vì họ hiểu rằng đời người rất mong manh, và ơn gọi nên thánh luôn là chuyện của hôm nay. Chính hôm nay tôi phải yêu. Chính hôm nay tôi phải hoán cải. Chính hôm nay tôi phải làm hòa với Chúa. Chính tối nay tôi phải dọn lòng.
Có lẽ điều đáng sợ nhất không phải là tận thế đến bất ngờ, mà là lòng ta ngủ mê giữa khi Chúa đang đến gần. Có những người sống rất lâu nhưng không thực sự tỉnh thức. Có những người kéo dài năm tháng, nhưng tâm hồn thì nguội lạnh, trống rỗng, xa Chúa. Trái lại, có những người sống âm thầm, ngắn ngủi, nhưng từng ngày đều đầy ý nghĩa vì họ biết sống dưới ánh sáng vĩnh cửu. Điều làm nên giá trị của đời người không phải chỉ là sống bao nhiêu năm, nhưng là sống những năm tháng ấy như thế nào trước mặt Thiên Chúa.
Vì thế, khi chiều xuống, ta hãy coi đó như một lời mời của Chúa. Lời mời dừng lại. Lời mời nhìn lại. Lời mời quay về. Lời mời phó thác. Giữa bao xao động của cuộc sống, những phút cuối ngày có thể trở thành cuộc hẹn rất đẹp giữa linh hồn và Thiên Chúa. Ở đó, không cần những lời lẽ cầu kỳ. Chỉ cần một tâm hồn thật lòng. Chỉ cần một ánh nhìn hướng về Chúa. Chỉ cần một câu nguyện đơn sơ: “Lạy Chúa, nếu đêm nay là đêm cuối cùng của đời con, xin cho con được ở trong tình thương của Ngài.”
Sống như thế, ta sẽ không sợ ngày mai, cũng không sợ ngày cuối cùng. Vì người luôn trở về với Chúa vào mỗi cuối ngày thì thật ra đã bắt đầu sống đời đời ngay giữa cuộc đời này rồi. Mỗi đêm là một lần tập phó thác. Mỗi sáng thức dậy là một lần được ban thêm thời gian để yêu mến và sửa mình. Và đến khi tiếng gọi sau cùng vang lên, người tín hữu có thể thưa lên trong bình an: “Lạy Chúa, con đây.”
Xin cho những tuần cuối năm phụng vụ đánh thức nơi chúng ta một tâm hồn tỉnh thức. Xin cho mỗi buổi chiều không chỉ là lúc kết thúc công việc, mà còn là lúc bắt đầu một cuộc trở về nội tâm. Xin cho ta biết tận dụng những phút cuối ngày để dọn mình, để yêu thương hơn, để tha thứ hơn, để sống thật hơn, và để mỗi đêm đều là một bước chuẩn bị dịu dàng cho cuộc gặp gỡ vinh quang với Chúa, Đấng sẽ đến, chắc chắn sẽ đến, nhưng đến vào giờ ta không ngờ.
Lm. Anmai, CSsR
Chiến sự hôm nay cho thấy một bước ngoặt nguy hiểm-Lê Diễn Đức
Nguyễn Kim Chi
Chiến sự hôm nay cho thấy một bước ngoặt nguy hiểm: cuộc đối đầu không còn dừng ở các mục tiêu quân sự, mà đã chuyển sang đánh thẳng vào hạ tầng năng lượng – huyết mạch của nền kinh tế toàn cầu.
Việc Israel tấn công vào mỏ khí South Pars của Iran và Iran lập tức đáp trả bằng các đòn đánh vào chuỗi cơ sở năng lượng tại Vùng Vịnh không chỉ là ăn miếng trả miếng, mà là sự chuyển pha sang một dạng chiến tranh mới – nơi mỗi đòn đánh đều mang tính hệ thống.
Bề ngoài, Israel vẫn là bên chiếm ưu thế rõ rệt. Khả năng tấn công chính xác, năng lực tình báo và kiểm soát không gian tác chiến giúp họ đánh trúng những mục tiêu có giá trị cao trong lòng Iran. Nhưng nếu chỉ nhìn vào các đòn đánh này để kết luận cục diện, thì sẽ bỏ qua phần quan trọng nhất của cuộc chiến: cách Iran “chơi game”.
Iran không cố thắng theo cách truyền thống. Họ hiểu rõ mình không thể cạnh tranh trực diện với Israel, càng không thể đối đầu đối xứng với Mỹ. Vì vậy, chiến lược của Tehran là chuyển cuộc chiến từ một ván cờ quân sự sang một trò chơi tiêu hao và phá vỡ hệ thống. Thay vì bảo vệ tuyệt đối lãnh thổ, Iran chấp nhận bị đánh, nhưng đổi lại họ mở rộng chiến trường ra toàn khu vực – nơi mà bất kỳ đòn tấn công nào cũng có thể gây chấn động dây chuyền.
Đòn phản công của Iran vào các cơ sở năng lượng ở Qatar, Saudi Arabia hay UAE là minh chứng rõ nhất. Đây không chỉ là hành động quân sự, mà là một tín hiệu: nếu Iran bị đẩy vào chân tường, họ sẵn sàng khiến cả hệ thống năng lượng toàn cầu rung chuyển. Nói cách khác, họ biến cuộc chiến thành một bài toán mà chi phí của việc đánh bại Iran có thể vượt xa lợi ích thu được.
Chính điểm này đã đặt Mỹ vào một tình thế cực kỳ khó xử. Về quân sự thuần túy, Mỹ có thể áp đảo Iran. Nhưng vấn đề không nằm ở việc “đánh thắng”, mà ở việc “kết thúc được chiến tranh”.
Nếu Washington lựa chọn leo thang, họ sẽ đối mặt với một kịch bản quen thuộc: chiến thắng nhanh về quân sự, nhưng sa lầy trong một không gian bất ổn kéo dài – nơi các lực lượng ủy nhiệm, xung đột cục bộ và phá hoại kinh tế liên tục bào mòn nguồn lực.
Bài học từ Chiến tranh Afghanistan vẫn còn rất mới. Mỹ đã lật đổ Taliban chỉ trong thời gian ngắn, nhưng phải mất hai thập kỷ để nhận ra rằng việc kiểm soát một xã hội phức tạp bằng sức mạnh quân sự là điều gần như bất khả thi.
Trước đó, Chiến tranh Iraq cũng cho thấy việc loại bỏ một chế độ không đồng nghĩa với việc xây dựng được một trật tự ổn định. Và Nội chiến Libya là ví dụ điển hình cho một khoảng trống quyền lực biến thành hỗn loạn kéo dài.
Iran thậm chí còn là một bài toán khó hơn. Đây không phải là một quốc gia dễ sụp đổ theo kiểu “cắt đầu là xong”. Họ có một hệ thống quyền lực đa tầng, một bản sắc quốc gia mạnh, và quan trọng hơn, một mạng lưới ảnh hưởng trải rộng khắp Trung Đông. Ngay cả trong kịch bản cực đoan nhất – Mỹ đánh bại chế độ hiện tại – thì việc “xóa sổ toàn bộ hệ thống” gần như là điều không tưởng. Những gì còn lại có thể là một Iran phân mảnh, bất ổn và thậm chí nguy hiểm hơn.
Vì vậy, nghịch lý của cuộc chiến này nằm ở chỗ: càng leo thang, Mỹ càng tiến gần đến một chiến thắng quân sự – nhưng lại xa dần một kết thúc chiến lược. Iran hiểu điều đó, và họ đang chơi đúng vào điểm yếu này. Họ không cần thắng nhanh; họ chỉ cần kéo dài, mở rộng và làm cho đối phương phải trả giá ngày càng đắt.
Nhìn từ góc độ này, có thể thấy cục diện hiện tại không phải là một cuộc chiến có bên thắng rõ ràng. Israel đang thắng trong từng trận đánh. Iran đang làm biến dạng toàn bộ cuộc chơi. Còn Mỹ, dù là siêu cường, lại bị đặt vào thế phải lựa chọn giữa hai con đường đều rủi ro: hoặc không hành động đủ mạnh để chấm dứt xung đột, hoặc hành động quá mạnh và tự đẩy mình vào một vòng xoáy sa lầy mới.
Và đó chính là điều khiến cuộc chiến này trở nên nguy hiểm: không phải vì nó chưa có người thắng, mà vì ngay cả người có thể thắng cũng không chắc sẽ thoát ra được.
KHÔNG THỂ THỜ Ơ – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế
Lm. Minh Anh, Tgp. Huế
“Họ tìm cách bắt Chúa Giêsu!”.
“Với Chúa Giêsu, không ai có thể thờ ơ quá lâu; họ sẽ theo Ngài hoặc giết chết Ngài!” – Don Schwager.
Kính thưa Anh Chị em,
Sự đan xen lý thú của hai bài đọc hôm nay cho thấy: “Với Chúa Giêsu, không ai có thể thờ ơ quá lâu!”; cũng thế, với điều thiện, không ai có thể phớt lờ mãi! Phải chọn lựa! Chọn Chúa Giêsu hay giết chết Ngài; chọn điều thiện hay bóp nghẹt nó!
Chúng ta thường nghĩ điều lành sẽ truyền cảm hứng; không hẳn vậy, đôi khi lại gây chống đối. “Ta hãy gài bẫy, hại tên công chính!”; “Nào ta kết án cho nó chết!” – bài đọc một. Những lời này ứng nghiệm nơi Chúa Giêsu và các môn đệ mọi thời. Điều tốt bị coi là lời kết án; lòng đạo bị xem như đe doạ. Ánh sáng càng rõ, bóng tối trong lòng người càng lộ ra và vùng vẫy chống lại. Có những lúc đứng giữa ánh sáng ấy, con người chỉ biết bất lực và rùng mình trước sự dữ tràn lan. Nhưng bài đọc Khôn Ngoan kết luận: “Chúng không biết những bí nhiệm của Thiên Chúa!”. “Thập giá là biểu lộ tột đỉnh của tình yêu Thiên Chúa!” – Bênêđictô XVI.
Trong bài Tin Mừng, khi Chúa Giêsu nói sự thật: “Đấng sai tôi là Đấng chân thật”, “Tôi từ Người mà đến”, người ta không chịu nổi và tìm cách bắt Ngài. Điều ấy vẫn lặp lại nơi các môn đệ mọi thời. Họ đã bắt và giết Ngài. Thiên Chúa thua sao? Bề ngoài, có! Nhưng đó là chiến thắng của tình yêu. Thập giá không chỉ phơi bày tội ác, nhưng còn phơi bày sự thật rằng chúng ta đã từ chối Tình Yêu đến cùng. Con người dùng tự do để đóng đinh Con của Ngài; nhưng Thiên Chúa dùng chính cây thập giá ấy để cứu độ họ. “Chính chúng ta đã giết Ngài… nhưng Ngài đã biến cuộc đóng đinh thành ơn cứu độ!” – Fulton Sheen.
Cũng thế, bạn và tôi ‘không thể thờ ơ’ với những lời dạy của Chúa Giêsu; hoặc là ủng hộ Ngài, hoặc là chống lại Ngài. Không có lập trường trung dung! Bạn sẽ tìm cách uốn nắn lời Ngài theo những ý tưởng và cách suy nghĩ của riêng mình, hay để lời chân lý của Ngài cắt xuyên qua bóng tối trong tâm hồn, lột trần sự kiêu hãnh và mù loà của bạn? Mỗi lần trì hoãn sự thật là một lần âm thầm đứng về phía đóng đinh Ngài. Hậu quả sẽ là rất lớn, cả trong cuộc sống đời này và cả trong cõi vĩnh hằng. “Không chống lại điều xấu là cộng tác với nó!” – Piô XI.
Anh Chị em,
“Không ai có thể thờ ơ quá lâu!”. Chúa Giêsu không bao giờ thờ ơ trước Chúa Cha, với Ngài, tất cả quy hướng về Cha. Ngài cũng không thờ ơ trước tội lỗi: Ngài gọi đích danh nó, vạch trần nó, và mang lấy nó. Trên thập giá, không còn chỗ cho sự trung dung: hoặc yêu đến cùng, hoặc khước từ đến cùng. Mùa Chay, mùa chọn điều thiện, chọn Giêsu – dù chúng ta tội lỗi, yếu hèn! Chúng ta ‘không thể thờ ơ’ mãi với Ngài, Đấng đã chờ bạn và tôi quá lâu! Ân sủng của Bí tích Hoà Giải đang chờ để chữa lành chúng ta. Vì lẽ, “Chúa gần gũi những tấm lòng tan vỡ” – Thánh Vịnh đáp ca.
Chúng ta có thể cầu nguyện,
“Lạy Chúa, càng đến gần Tuần Thánh, cho con biết càng kíp quay về với Chúa. Vì con – nhất là con – ‘không thể thờ ơ’ với Chúa mãi!”, Amen.
Lm. Minh Anh, Tgp. Huế
************************************************
Lời Chúa Thứ Sáu Tuần IV Mùa Chay
Họ tìm cách bắt Đức Giê-su, nhưng giờ của Người chưa đến.
✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an. Ga 7,1-2.10.25-30
1 Khi ấy, Đức Giê-su thường đi lại trong miền Ga-li-lê ; thật vậy, Người không muốn đi lại trong miền Giu-đê, vì người Do-thái tìm giết Người.
2 Lễ Lều của người Do-thái gần tới, 10 khi anh em Người đã lên dự lễ, thì chính Người cũng lên, nhưng không công khai và hầu như bí mật.
25 Bấy giờ có những người ở Giê-ru-sa-lem nói : “Ông này không phải là người họ đang tìm giết đó sao ? 26 Kìa, ông ta ăn nói công khai mà họ chẳng bảo gì cả. Phải chăng các nhà hữu trách đã thực sự nhìn nhận ông là Đấng Ki-tô ? 27 Ông ấy, chúng ta biết ông xuất thân từ đâu rồi ; còn Đấng Ki-tô, khi Người đến thì chẳng ai biết Người xuất thân từ đâu cả.” 28 Lúc giảng dạy trong Đền Thờ, Đức Giê-su nói lớn tiếng rằng : “Các ông biết tôi ư ? Các ông biết tôi xuất thân từ đâu ư ? Tôi đâu có tự mình mà đến. Đấng đã sai tôi là Đấng chân thật. Các ông, các ông không biết Người. 29 Phần tôi, tôi biết Người, bởi vì tôi từ nơi Người mà đến, và chính Người đã sai tôi.”
30 Bấy giờ họ tìm cách bắt Người ; nhưng chẳng có ai tra tay bắt, vì giờ của Người chưa đến.
Lễ trọng thể kính Thánh Giuse- Cha Vương
Grimshaw đã mua hòn đảo với giá khoảng 11.000 USD.
Năm 1962, một người đàn ông đã mua một hòn đảo nhiệt đới bị bỏ hoang với giá chỉ nhỉnh hơn giá một căn nhà. Thay vì xây khách sạn, ông chọn dành cả cuộc đời mình cho nơi đó.
Người đàn ông ấy là Brendon Grimshaw, một nhà báo người Anh. Trong một chuyến đi đến Seychelles, ông bị cuốn hút bởi một hòn đảo nhỏ không có người ở tên là Moyenne.
Vào thời điểm đó, hòn đảo gần như bị bỏ mặc hoàn toàn ,chỉ có vài cái cây, đất khô cằn và hầu như không có động vật. Nó là một nơi bị lãng quên.
Grimshaw đã mua hòn đảo với giá khoảng 11.000 USD.
Ông không làm điều đó để làm giàu.
Ông không làm điều đó vì du lịch.
Ông quyết định hồi sinh hòn đảo.
Trong những năm sau đó, ông đã biến đổi hòn đảo bằng sự kiên nhẫn và gần như làm việc một mình. Ông trồng hơn 16.000 cây, tạo nên một khu rừng thực sự nơi từng là vùng đất cằn cỗi. Ông tự tay làm hàng kilomet đường mòn và khôi phục môi trường tự nhiên của đảo.
Mục tiêu tham vọng nhất của ông là đưa động vật trở lại hòn đảo.
Trong số đó có rùa khổng lồ Aldabra, một trong những loài rùa lớn nhất và hiếm nhất trên Trái Đất. Theo thời gian, hòn đảo trở thành nơi trú ngụ của chim biển, bò sát và nhiều loài sinh vật khác.
Moyenne không còn là một hòn đảo hoang nữa.
Nó đã trở thành một khu bảo tồn thiên nhiên.
Khi năm tháng trôi qua, danh tiếng của hòn đảo tăng lên — và sự quan tâm của các nhà đầu tư cũng vậy. Nhiều doanh nhân đã đề nghị những khoản tiền khổng lồ để mua lại và biến nó thành khu nghỉ dưỡng sang trọng.
Có lời đề nghị lên tới 50 triệu USD.
Grimshaw đã từ chối.
Với ông, Moyenne không phải là tài sản để khai thác. Đó là một nơi cần được bảo vệ. Ông tin rằng hòn đảo nên luôn mở cửa cho con người và trên hết là cho thiên nhiên.
Năm 2009, một điều đáng chú ý đã xảy ra.
Đảo Moyenne chính thức được đưa vào Công viên biển quốc gia Sainte Anne, trở thành công viên quốc gia nhỏ nhất thế giới.
Brendon Grimshaw tiếp tục sống ở đó cho đến cuối đời.
Khi ông qua đời năm 2012, ông đã dành gần 50 năm trên hòn đảo ấy để trồng cây, bảo vệ động vật và bảo vệ một ý tưởng đơn giản nhưng hiếm có: thiên nhiên không phải lúc nào cũng để bán.
Ngày nay, Moyenne vẫn ở đó xanh tươi và yên bình.
Và mỗi cái cây đều kể cùng một câu chuyện: câu chuyện về một người đàn ông đã có thể trở nên vô cùng giàu có, nhưng lại chọn để lại cho thế giới một điều còn quý giá hơn tiền bạc.
Theo Live healthy live better
My Lan Phạm
Xe cấp cứu của thời bao cấp
DÁM YÊU – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế
Lm. Minh Anh, Tgp. Huế
“Khi tỉnh giấc, ông Giuse làm như sứ thần Chúa dạy”.
Nghệ thuật thường vẽ Thánh Giuse như một cụ già. Nhưng El Greco lại khắc hoạ ngài trẻ trung, vững chãi; trẻ Giêsu quấn lấy chân. Như vậy, thật gần với Tin Mừng – một người trẻ đứng trước mọi rủi ro, vẫn dám yêu!
Kính thưa Anh Chị em,
Tình yêu luôn bị thách thức bởi rủi ro và chuyện tình Giuse – Maria cũng không ngoại lệ! “Maria có thai”. May thay, nhờ sự can thiệp của sứ thần, Giuse đã ‘dám yêu’ với tất cả rủi ro như Tin Mừng ngày lễ tiết lộ.
Thông thường, chúng ta chỉ yêu khi mọi sự còn sáng sủa: danh dự được giữ, tương lai trong tầm tay, và không phải trả giá. Với Giuse, tất cả sụp xuống trong một tin ngắn: “Maria có thai” – không giải thích, không lối thoát. Tình yêu trở thành một vết cắt: ở lại thì mang nhục, ra đi thì mất người mình yêu. Vậy mà Giuse không tố cáo, không tự vệ; thay vào đó, chọn rút lui âm thầm – một chọn lựa tưởng yếu, nhưng là đỉnh cao nội lực: chịu thiệt để người khác được bình an. Chính lúc ấy, Giuse đã ‘dám yêu’. “Tình yêu là điều cao cả… nó gánh vác mọi sự cách bình thản!” – Thomas Kempis.
Nhưng với những ai ngay lành, Thiên Chúa không để họ ở lại trong ngõ cụt. Khi Giuse đi đến tận cùng của trung thực, một giấc mơ mở ra. Không phải để giải thích mọi sự, nhưng để trao một hướng đi đủ cho trái tim bước tiếp; không dài, không giải thích hết, chỉ đủ để ông biết: đừng sợ! Và thật tuyệt vời, “Giuse làm như sứ thần Chúa dạy”. Tin là bước đi khi chưa hiểu; yêu là hành động khi chưa chắc. Và đó là lần thứ hai, Giuse ‘dám yêu’ – dám đặt cả đời mình vào một lời hứa không thể kiểm chứng.
Thánh Bernard viết: “Hãy nhớ đến vị tộc trưởng bị bán sang Ai Cập! Thánh Giuse không chỉ nhận tên ông mà còn nhận sự trong trắng của ông! Giuse Cựu Ước ‘giỏi đọc’ giấc mơ; Giuse Tân Ước ‘giỏi tin’ giấc mơ; Giuse Cựu Ước ‘tích trữ ngũ cốc’ cho một dân; Giuse Tân Ước ‘trông coi Bánh Hằng Sống’ cho muôn dân; và còn hơn thế, bảo tồn những gì Chúa hứa cho Abraham và nhà Đavít!”. Các bài đọc hôm nay và Thánh Vịnh đáp ca xác nhận: “Dòng dõi Người sẽ trường tồn vạn kỷ!”.
Anh Chị em,
Thử hỏi, có ai ‘dám yêu’ với tất cả rủi ro bằng Thiên Chúa? Thập giá – rủi ro vĩ đại của mọi rủi ro – khi vì yêu thương, Thiên Chúa trao chính Con mình. Và Đấng Phục Sinh vẫn đang chấp nhận rủi ro khi trao vào tay chúng ta những gì Ngài chưa hoàn tất! Ai trong đời cũng có lúc đứng trước một “Maria có thai” nào đó: một biến cố không giải thích được, một tổn thương không gọi được tên, một đổ vỡ không thể đảo ngược. Chúng ta có dám chọn trao mọi sự cho Chúa? Chỉ khi dám yêu như thế, cuộc đời mới không trôi qua vô nghĩa, nhưng trở thành một phần của công trình cứu độ. Không dám yêu, chúng ta sẽ không bao giờ sống thật! “Lạy Chúa, xin nhận lấy mọi tự do của con… tất cả là của Chúa; xin tuỳ ý định đoạt!” – Ignatiô Loyola.
Chúng ta có thể cầu nguyện,
“Lạy Chúa, giữa những gì mù mờ, cho con biết tin; giữa những gì đổ vỡ, cho con biết trao; và giữa những gì khiến con co lại, xin mở tim con ra để yêu đến cùng!”, Amen.
Lm. Minh Anh, Tgp. Huế
***************************************
Lời Chúa 19/3 THÁNH GIUSE, BẠN TRĂM NĂM ĐỨC MARIA
Ông Giu-se làm như sứ thần Chúa dạy.
✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu. Mt 1,16.18-21.24a
16 Ông Gia-cóp sinh ông Giu-se, chồng của bà Ma-ri-a, bà là mẹ Đức Giê-su cũng gọi là Đấng Ki-tô.
18 Sau đây là gốc tích Đức Giê-su Ki-tô : bà Ma-ri-a, mẹ Người, đã thành hôn với ông Giu-se. Nhưng trước khi hai ông bà về chung sống, bà đã có thai do quyền năng Chúa Thánh Thần. 19 Ông Giu-se, chồng bà, là người công chính và không muốn tố giác bà, nên mới định tâm bỏ bà cách kín đáo. 20 Ông đang toan tính như vậy, thì kìa sứ thần Chúa hiện đến báo mộng cho ông rằng : “Này ông Giu-se, con cháu Đa-vít, đừng ngại đón bà Ma-ri-a vợ ông về, vì người con bà cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần. 21 Bà sẽ sinh con trai và ông phải đặt tên cho con trẻ là Giê-su, vì chính Người sẽ cứu dân Người khỏi tội lỗi của họ.” 24a Khi tỉnh giấc, ông Giu-se làm như sứ thần Chúa dạy.
Nỗi đau thứ bảy: Táng xác Chúa Giêsu trong huyệt đá – Cha Vương
Pakistan không kích vào thủ đô của Afghanistan, hơn 400 người chết
March 17, 2026
KABUL, Afghanistan (NV) – Giới chức Taliban ở Afghanistan cho biết Pakistan đã không kích vào một bệnh viện cai nghiện ma túy ở Kabul khiến hơn 400 người thiệt mạng và 250 người khác bị thương, theo CBS hôm Thứ Ba, 18 Tháng Ba.
Vụ không kích xảy ra vào khoảng 9 giờ tối Thứ Hai, theo giới chức Taliban.
Nhân viên an ninh Taliban khiêng thi thể tại bệnh viện cai nghiện ở Kabul sau cuộc không kích của Pakistan hôm 16 Tháng Ba. (Hình: Wakil Kohsar / AFP via Getty Images)
“Chính quyền quân sự Pakistan đã ném bom một cơ sở cai nghiện ma túy 2,000 giường có tên là ‘Omid’. Phần lớn cơ sở đã bị phá hủy,” ông Hamdullah Firtat, phát ngôn viên của Taliban, cho biết trên X.
“Thật không may, số người tử vong cho đến nay đã lên tới 400 người, và có tới 250 người khác bị thương.”
Ông Sharafat Zaman, phát ngôn viên của Bộ Y Tế Công Cộng Taliban, nói với CBS News rằng số người chết có thể tăng lên khi lực lượng cứu hộ vẫn đang tiếp tục kéo các thi thể ra khỏi đống đổ nát.
Các video được Taliban chia sẻ với CBS cho thấy bệnh viện cai nghiện bốc cháy khi lính cứu hỏa và các đội cứu hộ cố gắng dập lửa và khiêng những người chết và bị thương trên cáng ra ngoài.
Pakistan phủ nhận cáo buộc của Taliban, cho rằng họ đó là “tuyên bố sai sự thật.” Họ nói rằng “các vụ nổ tiếp theo có thể được nhìn thấy cho thấy rõ ràng ở nơi đó có các kho đạn dược lớn”.
Phía Pakistan cho biết họ thực hiện “không kích chính xác” nhắm vào các cơ sở quân sự của Taliban ở các tỉnh Kabul và Nangarhar.
“Cơ sở hạ tầng hỗ trợ kỹ thuật và các cơ sở lưu trữ đạn dược tại hai địa điểm ở Kabul đã bị phá hủy trên thực tế,” ông Attaullah Tarar, bộ trưởng Thông Tin Và Phát Thanh Truyền Hình Pakistan, cho biết trên mạng xã hội.
Các cuộc không kích này diễn ra sau nhiều xung đột biên giới dữ dội giữa Afghanistan và Pakistan vốn bùng phát hồi cuối Tháng Hai.
Pakistan nói rằng họ đang trong “tình trạng chiến tranh công khai” với Afghanistan và nhắm vào “các nhóm khủng bố”. (NNL) [kn]







