Hà Nội: Hoa Tết ế ẩm hôm 28 Tết, người bán lỗ bạc tỷ

Ba’o Nguoi-Viet

February 15, 2026

HÀ NỘI, Việt Nam (NV) – Hôm 15 Tháng Hai (28 Tháng Chạp), những người bán hoa, cây kiểng Tết tại Hà Nội đồng loạt treo bảng “xả hàng” trước nguy cơ lỗ nặng.

Theo ghi nhận của phóng viên báo Tuổi Trẻ, việc giảm giá tận đáy diễn ra với các loại hoa đào, mai, tắc (quất), thậm chí một cặp chậu mai nhỏ ở khu vực chợ hoa Tết Mỹ Đình chỉ còn 100,000 đồng ($3.9) nhưng vẫn không có người mua.

Chậu mai hôm 15 Tháng Hai (28 Tháng Chạp) hạ giá chỉ còn 100,000 đồng ($3.9) một cặp. (Hình: Tuổi Trẻ)

Bà Đỗ Thị Oanh, quê Hưng Yên, không giấu được vẻ buồn bã khi đứng giữa dãy các chậu mai vàng chưa bán được dù chỉ còn một ngày là Tết Bính Ngọ 2026.

Bà Oanh nhập khoảng 2,000 cây mai vàng từ tỉnh Bến Tre, nay là Vĩnh Long, ra Hà Nội để bán nhưng đến hôm 15 Tháng Hai vẫn còn 600 cây chưa bán được.

Người phụ nữ cho biết, chi phí vận chuyển mai tốn 40 triệu đồng ($1,540), thuê hai kho chứa cây hết 30 triệu đồng ($1,155). Do hàng trăm cây mai bị ế, bà Oanh nhẩm tính rằng mình đã lỗ rất nặng.

“Giờ bán để thu lại được đồng nào hay đồng đó,” người phụ nữ nói.

Cùng cảnh ngộ, ông Lê Đình Chính, dân Hà Nội, cho biết năm nay ông nhập khoảng 300 cây đào thế cỡ to, nhưng đến 28 Tết vẫn còn 100 cây chưa bán được.

Số vốn đọng lại lên tới 1 tỉ đồng ($38,506), chưa kể chi phí vận chuyển.

Những người bán tắc (quất) kiểng cầm chắc lỗ nặng. (Hình: Tuổi Trẻ)

“Đào tôi nhập chủ yếu là loại đào thế cỡ lớn, nếu cho thuê thì khoảng 10 triệu đồng ($385) mỗi cây, còn bán thì 16 triệu đồng ($616). Nhưng đến sát Tết vẫn rất ế ẩm. Năm ngoái đào không nở kịp cũng ế. Năm nay nhuận, đào nở rộ cũng vẫn ế,” ông Chính thở dài nói.

Không còn hy vọng bán được hết lượng cây đào vào hôm 29 Tết, người đàn ông sau đó phải thuê xe cẩu để chở các chậu đào ế về vườn dưỡng lại cây cho mùa Tết năm sau.

Cùng thời điểm, tại những quầy bán tắc trên phố Trần Vỹ, các chậu nhỏ để bàn chỉ còn 120,000 đồng ($4.6) mỗi chậu nhưng khách chỉ ghé qua coi, trả giá rồi bỏ đi.

“Tôi chuẩn bị 1,200 cây, đến chiều 28 Tết vẫn còn 500 cây, đủ các loại lớn nhỏ. Giảm giá rất sâu rồi nhưng khách vẫn mặc cả, có người trả giá xong lại bỏ đi,” ông Phạm Quang Long, người bán tắc cho hay. (N.H.K) [kn]


 

THỞ DÀI – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Người thở dài não nuột mà nói, ‘Sao thế hệ này lại xin một dấu lạ?’”.

Một người làm việc 25 năm với cùng một vị trí, cùng một mức lương. Anh đến gặp ông chủ và than, “Tôi đã có một phần tư thế kỷ kinh nghiệm!”. Ông chủ thở dài, “Bạn thân mến, bạn chỉ có một kinh nghiệm lặp lại trong 25 năm!”.

Kính thưa Anh Chị em,

May be an illustration of text that says 'fine fineart art america ca'

Trong Tin Mừng hôm nay, xem ra giới biệt phái cũng chưa có một kinh nghiệm nào về Chúa Giêsu. Dẫu đã chứng kiến các phép lạ Ngài làm, họ vẫn đòi thêm. Ngài ‘thở dài’, và điều này bộc lộ một nỗi đau tâm linh sâu sắc bên trong!

Giống như bản dịch BJ. và NAB., cha Nguyễn Thế Thuấn dịch, “Tự tâm thần, Ngài rên lên”. Không phải một tiếng thở mệt; đó là tiếng của một tình yêu bị chặn cửa; một tiếng thở phát ra từ nơi sâu nhất của Đấng yêu mà không được đón nhận. “Đối diện với giới lãnh đạo đương thời, Chúa Giêsu thở dài. Tôi cảm nhận rằng Ngài đang kiệt sức vì thất vọng!” – David J. Collum.

Nhưng Chúa Giêsu không thất vọng vì thiếu quyền năng; Ngài thất vọng vì lòng người khép lại. Phép lạ không thiếu, cái thiếu là lòng tin; ánh sáng không tắt, cái tắt là trái tim. Dẫu thế, Ngài vẫn yêu thương họ, còn nước còn tát để mời gọi họ hoán cải. Hiếm khi chúng ta nghĩ rằng Chúa Giêsu yêu các biệt phái; chúng ta chỉ nhớ những lời quở trách. Không phải thế; mọi lời gay gắt của Ngài đều nhắm cứu họ. Mọi chất vấn đều là nỗ lực cuối cùng để lay động một tâm hồn đã quen đạo đến mức không còn rung động.

Vậy hôm nay, Chúa Giêsu có phải ‘thở dài’ vì chúng ta? Chúng ta không xin dấu lạ bằng miệng, nhưng xin bằng thái độ: vẫn nghe Lời Chúa mỗi ngày mà không đổi thay; vẫn tham dự Thánh Thể mà lòng nguội lạnh; vẫn cầu nguyện nhưng giữ lại một góc không cho Ngài chạm tới. Như lời Giacôbê, “Họ là kẻ hai lòng, hay thay đổi trong mọi việc họ làm!” – bài đọc một. Có thể chúng ta cũng chỉ có “một kinh nghiệm lặp lại” về Chúa suốt 10, 20, 30 năm. Một thói quen đạo đức được lặp lại, nhưng không có một cuộc hoán cải thật sự. Không phải thiếu thời gian theo Chúa; điều thiếu là một lần để Ngài thực sự chạm vào vết thương sâu nhất.

Anh Chị em,

Hãy nhìn Chúa Giêsu! Đấng đã từng ‘thở dài’ trước sự cứng lòng của con người, thì trên thập giá Ngài không còn ‘thở dài’ nữa. Không một tiếng trách móc, không một lời cay đắng; chỉ còn, “Lạy Cha, xin tha cho họ!”. Nếu có một hơi thở cuối cùng, thì đó là hơi thở trao ban. Ngài không rên vì bị từ chối; Ngài hiến mình vì yêu đến cùng. Chính nơi tưởng như thất bại ấy, tình yêu phá tung mọi cửa đóng kín. Và đó cũng là lời mời gọi mỗi người chúng ta: đừng khép lại khi bị hiểu lầm, đừng thở dài khi bị từ chối, đừng giữ lại khi bị tổn thương. Ở lại với Ngài, chúng ta học cách mở ra đúng lúc đau nhất; vì “Càng hiệp thông trọn vẹn với Chúa Giêsu, bạn càng trở thành con người mà Cha trên trời mong ước bạn trở thành!” – Rolland Baker.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin lay con khỏi sự quen lì; làm lặng con giữa những ồn ào; và phá tường lòng con để con lại biết run trước Ngài!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

***************************************************************

Lời Chúa Thứ Hai, Tuần VI Thường Niên, Năm Chẵn

Sao thế hệ này lại xin một dấu lạ.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mác-cô. Mc 8,11-13

11 Khi ấy, những người Pha-ri-sêu kéo ra và bắt đầu tranh luận với Đức Giê-su, họ đòi Người một dấu lạ từ trời để thử Người. 12 Người thở dài não nuột và nói : “Sao thế hệ này lại xin một dấu lạ ? Tôi bảo thật cho các ông biết : thế hệ này sẽ không được một dấu lạ nào cả.” 13 Rồi bỏ họ đó, Người lại xuống thuyền qua bờ bên kia.


 

 Con người sinh ra là để đi đến cái chết…

Những Câu Chuyện Thú VịChi Nguyen
 Con người sinh ra là để đi đến cái chết, sống thêm một ngày là cái chết đến gần hơn. Nó giống như ai cũng cầm cái án tử hình từ khi cất tiếng khóc..

Không có ngoại lệ, không thể lót tay tử thần để mình sống mãi. Chỉ khác ở chỗ là đến sớm hay muộn…!!!

Không ai biết được ngày mai không có tên mình trong danh sách ra đi?

Không ai dám chắc được tương lai mình sẽ thế nào?

Không ai biết được điều gì sẽ xảy ra với mình vào ngày mai?

Không ai biết ngày mai hay bắt trắc điều gì đến trước?

Cuộc đời này vốn mong manh chứ không dầy dặn như ta tưởng tượng

Cuộc đời này vốn vô thường chứ không phải bình thường như ta vẫn nghĩ

Cuộc đời này vốn rất ngắn chứ không dài như ta hình dung

Hãy học cách chấp nhận sự thật đó và bớt ảo tưởng

Thay vì đau buồn mất mát vì ai đó ra đi,

Thay vì khóc lóc vật vã vì không còn người thân yêu đó trên đời,

…thì hãy trao yêu thương khi họ còn sống.

Sống cho trọn nghĩa vẹn tình

Sống cho đáng sống làm người

Sống để mình không còn phải hối tiếc

Sống sao để khi tạm biệt người dương kẻ âm ta mỉm cười vì họ đã kết thúc mọi thứ rất tốt đẹp trong kiếp sống này và ta đã tròn vai..

Đừng tranh thua hơn thua thiệt kém

Đừng tranh giành đúng sai phải trái

Đừng dùng ngôn từ cay nghiệt miệt thị

Đừng hành động xấu hại đến ai

Đừng có suy nghĩ tiêu cực cho người

Bởi mọi thứ sẽ vô nghĩa khi một trong hai người ra đi.

Hãy tập buông bỏ mà không cần phải tìm lý do để tha thứ

Hãy tập biết ơn ngay cả khi không biết

Hãy tập thương mà không cần hiểu

Mỗi ngày một chút thôi, 365 ngày là 365 chút rồi, khi ấy bạn thấy mình đáng yêu đến lạ kì

Đến người dưng, kẻ lạ. Đến cả con chó con mèo bạn còn thương yêu thì sao phải giữ trong lòng những kí ức đau buồn với mẹ cha, vợ chồng, con cái, người thân…

Đặc biệt là vợ chồng, đừng buông tay vội nếu trong bạn còn có thể thương yêu họ.

Người ta có thể phụ mình nhưng mình tuyệt đối không phụ họ. Ta làm vậy không phải vì họ mà vì ta cần một đời bình an.

Hãy yêu thương mỗi ngày bạn nhé…!!

Bài và ảnh sưu tầm.

May be an image of one or more people


 

 ANH TRÍ  – Trần Bạch Thu- Truyen ngan HAY

Kimtrong LamLƯƠNG VĂN CAN K 76.

 Trần Bạch Thu –

10 tháng 2, 2026

Trời Cali sáng nay mưa dầm dề, tuy không lớn lắm nhưng rỉ rã có chút xíu nắng từng đợt rồi lại tắt, mưa tiếp, tôi đang trong nhà, lướt phây-bút, xem tin tức trên net đủ loại … và check email như thường lệ vào mỗi buổi sáng. Thế rồi tôi chậm lại ở hộp thư yahoo, tiêu đề tin buồn, tới tuổi nầy rồi chuyện tin buồn là điều bình thường quanh quẫn trong anh em bạn bè, không có gì hoang mang lắm, nhưng buổi sáng hôm nay khi nghe tin anh qua đời tôi lại bật mình muốn khóc thật sự.

Người ta thì học trò trong Quảng ra thi, còn anh thì cũng là xứ Quảng mà lại vô thi. Anh xuất thân từ trường Trung học Nguyễn Hoàng, Quảng Trị. Không biết anh có vướng chân cô gái Huế nào hay không, nhưng làm thơ anh thường lấy một trong các bút hiệu là Hoàng Dung, nghe đâu là tên người em gái của một chị bạn học cùng lớp ĐS17, người Huế họ Hoàng. Nói chung, anh em chỉ biết hể ai có tiếng nói trọ trẹ đều cho là dân Huế, nhưng chính anh đã giải thích cho tôi biết tiếng Quảng Trị có đôi chút khác, nặng hơn tiếng Huế, anh còn nêu ra một vài thí dụ nghe hơi tục mà vui hơn là đúng.

Anh làm Phó quận trưởng ở Quảng Tín năm 23 tuổi, trước khi về thi tuyển đậu vào lớp Đốc sự Khóa 17 năm 1969 cùng với anh em chúng tôi là sinh viên thuần túy. Học chung cùng lớp mà nghe nói anh đã tốt nghiệp khóa Tham sự 3 và từng làm Phó quận nên trong lòng cũng hãnh diện lắm. Đi học anh được bầu làm trưởng lớp, chuyên điểm danh anh em, nhưng nhẹ nhàng thôi, khi nào có người đến trễ anh thường đợi để điều chỉnh trước khi nộp cho phòng công tác sinh viên để họ không bị “mất điểm chuyên cần.”

Trong thời gian còn đi học ở trường năm thứ ba, anh lập liên danh ra tranh cử ban đại diện sinh viên toàn trường, nhưng thất cử, mặc dù anh đã chọn được người đứng thủ quỹ liên danh là hoa khôi của lớp ĐS19 (Đ Ng.) trong khi liên danh thắng cử có thủ quỹ cùng lớp ĐS17 mà anh đã không chọn hay chọn trễ nên thua. Bạn bè nói kháo với nhau như vậy, nhưng anh vẫn tự hào là cô thủ quỹ liên danh của minh dễ thương hơn.

Tuy là sinh viên công chức lớn hơn anh em sinh viên thuần túy chừng 4,5 tuổi nhưng anh sinh hoạt rất thân thiện vui vẻ, bình dị với mọi người. Dáng người mãnh khảnh, gương mặt thanh tú, tóc rẽ đường ngôi bảy ba, thẳng mướt rượt. Lúc nào cũng ăn mặc chỉnh tề, quần sậm màu, áo sơ mi trắng tươm tất “nhìn quân phục biết tư cách.”

Cuối khóa anh là người duy nhất chọn đề tài luận văn  “Người Nữ Công Chức trong Guồng Máy Hành Chánh.” Lẽ thường khi sinh viên chọn đề tài Luận văn tốt nghiệp thường hay xoay quanh các đề tài chính trị, kinh tế, tài chánh, giáo dục hoặc các đề tài có nguồn dữ liệu phong phú và dễ tìm. Đàng này với đề tài anh chọn, tài liệu rất hiếm và thực tế là rất dễ bị lạc đề.

Ra trường, anh về nhiệm sở cũ tỉnh Quảng Tín và được cử làm Phó Quận trưởng quận Thăng Bình và rồi từ đó trên bước đường công vụ chúng tôi ít có cơ hội gặp nhau. Chỉ biết anh vẫn còn sống độc thân vui tính với anh em. Nghe bạn bè cùng tỉnh nói lại anh về quận được mọi người khen ông Phó đẹp trai làm thơ rất hay, đặc biệt là thơ bằng chữ Hán, còn có đào hoa hay không thì chỉ có Trời biết.

Sau 30 tháng 4 năm 1975 anh bị bắt đi cải tạo ở địa phương miền Trung cho đến khi được thả về anh sống chui tại Sài Gòn, làm đủ mọi ngành nghề với anh em để sinh sống cho đến khi được đi Mỹ rất sớm theo diện HO.

Tôi qua Mỹ cũng diện HO sau anh chừng 2 năm. Gặp lại anh đang trú ngụ tại chùa Bát Nhã, thành phố Santa Ana, CA do một người bạn học giới thiệu với sư trụ trì, anh sinh hoạt tại chùa như một tu sĩ trường chay, ngũ trên chiếc giường sắt độc thân trong căn phòng trống trơn, mùa đông lạnh thấu xương. Lần đầu gặp anh tôi hơi ái ngại, sao lại ở chỗ nầy. Tôi hỏi:

– Anh thật sự tu chưa ?

– Chưa định, có thể chỉ ở tạm một thời gian.

Trong thời gian nầy, ngoài một vài công việc ở chùa do Thầy nhờ giúp, anh xem như là làm công quả, không có đọc kinh theo thời cũng như không có nghiên cứu giáo lý Phập pháp gì cả, mặc dù tôi biết anh là một phật tử thuần thành, thay vào đó anh làm thơ Đường đôi khi bằng chữ Hán và viết truyện. Tôi còn nhớ anh có viết bài “Cai Hạ Ca” (Bài ca Hạng Võ biệt Ngu Cơ) nghe buồn lắm. Thỉnh thoảng anh em có tới chùa rủ anh ra ngoài chơi, đi ăn vui vẻ với nhau. Ở chùa ăn chay, nhưng ra đường phố anh em cũng lại mời “Bồ Đề Tịnh Tâm Chay” như ở chùa. Thật rõ chán, không rượu chè, bia bọt gì được cả.

Được chừng vài năm, anh một thân một mình lại ra đi về miền đông, thành phố Boston, nghe nói là ở với người chị họ, đất Mỹ mênh mông biết nơi đâu nương tựa. Hôm anh đi chúng tôi có đêm chia tay cũng làm thành một bữa say sướt mướt, hành lý gọn nhẹ không có gì nhiều chỉ có ống “điếu cày” là báu vật mà anh luôn giữ bên mình chưa bao giờ rời.

Có một điều tôi hay thắc mắc, tự hỏi là anh làm thơ hoặc viết văn luôn ký bút hiệu toàn là nữ nghe như chuyện kiếm hiệp Kim Dung nào là Trương Thúy Hậu, Cao Kim Liên, Nguyễn Nga Bích … Riêng bút hiệu Hoàng Dung thì anh em còn hiểu lờ mờ đôi chút.

Thế rồi đùng một cái, cách nay hơn 10 năm trong một cuộc gọi điên thoại từ Boston anh cho tôi biết là anh đã bảo lãnh cho gia đình đứa con gái qua Mỹ đoàn tụ với anh. Thật ngạc nhiên tột độ. Chưa bao giờ tôi nghe anh nói về chuyện gia đình. Nay thì đã rõ, chuyện đời nhiều khi thấy vui vẻ là vậy mà bên trong lại vô cùng rối rắm không ai biết.

Đứa con gái của anh tên là Trương Thúy Hậu, anh có với người vợ chưa bao giờ cưới. Họ xa nhau từ ngày anh bị bắt đi cải tạo (sau ngày quận lỵ lọt vào tay cộng sản), hai mẹ con trở về quê cũ cũng ở Quảng Tín cải trang, sống âm thầm coi như anh đã chết. Năm năm sau anh về mới biết chị Cao Kim Liên đã có người cám cảnh, thương tình nên đã gá nghĩa vợ chồng với chị và nhận con anh như là con của nhà họ Trương. Từ đó anh lang bạt ra đi với niềm đau chôn kín tưởng chừng như hết cả cuộc đời nầy. Chỉ có vậy thôi.

Kể từ khi bảo lãnh cho con gái, con rể và các cháu sang Boston, cả gia đình cùng nhau mở một tiệm bán phở cũng tương đối đắt khách. Lần sau hết, tôi nghe tin anh bị đụng xe trong một trường hợp hi hữu, xe người lạ de xe từ trong garage ra đường, anh đi tới, trời mờ sáng tài xế không thấy, anh cũng không thấy, thế là anh bị xe đụng gãy chân hơi nặng nên sau khi lành anh phải chống gậy để đi. Mọi người đều nói, người già bị tai nạn té gãy xương híp thì về mặt tâm lý, tinh thần xuống dốc nhanh lắm.

Và nay thì anh đã ra đi, may mắn nhất đời là cuối cùng anh cũng đã quyết định đưa được một đứa con gái duy nhất sang Mỹ cùng với gia đình. Tuy muộn màng nhưng cha con cũng trùng phùng nhau trên đất khách. Nhìn di ảnh của anh trên bản cáo phó, tôi không thể không ngậm ngùi … Than ôi! Thời oanh liệt nay còn đâu?

Anh Trí ơi! Thôi đành từ đây ngàn thu vĩnh biệt, anh hãy yên nghỉ, cho dù tôi thật rất tiếc là chưa có dịp hỏi anh về chị Cao Kim Liên giờ ra sao, cũng như chị Nguyễn Bích Nga có còn ở Sài Gòn hay đã đi nơi nào? Nhưng thôi, có chi đâu tất cả cũng chỉ như là một cuộc rong chơi ở cõi đời nầy. Vậy thôi nhé. 

May be an image of pinecone, tree and nature


 

TỘI TẠI TÂM -Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết: ai giận anh em mình, thì đáng bị đưa ra toà!”.

“Ranh giới giữa thiện và ác không chạy qua quốc gia, giai cấp hay đảng phái – nhưng chạy qua từng trái tim mỗi người!” – Aleksandr Solzhenitsyn.

Kính thưa Anh Chị em,

May be art of text that says 'finear art america'

Ranh giới giữa thiện và ác không ở ngoài chúng ta, nhưng chạy qua tim mỗi người. Lời Chúa hôm nay rọi thẳng vào nơi ấy – trước khi lộ thành hành vi, mọi sa ngã đã nhen nhóm từ bên trong: ‘tội tại tâm!’.

Chúng ta thường sợ những tội lớn, những cú ngã ồn ào. Nhưng Chúa Giêsu không bắt đầu từ đó, Ngài chỉ vào cơn giận chưa kịp bộc phát, ánh mắt chưa kịp chạm tới, lời nói chưa kịp thốt ra. Không đợi hành vi, Ngài dừng ở động cơ; không đợi dao vung, Ngài đếm nhịp tim đang sôi sục; không đợi ngoại tình thành sự, Ngài chạm tới ánh nhìn đã lệch; không đợi lời thề gian vang ra, Ngài nghe thấy sự quanh co vừa hình thành. Ở đó, tội đã khởi sự – ‘tội tại tâm’. “Mọi tội lỗi của con người đều phát sinh từ trái tim!” – Augustinô.

Và đây mới là điều nhức nhối: chúng ta có thể sống cả đời mà vẫn nghĩ mình “ổn”. Không giết ai, nhưng nuôi một người trong lòng để ghét; không phản bội công khai, nhưng âm thầm phản bội bằng những tưởng tượng dung dưỡng; không nói dối trắng trợn, nhưng quen điều chỉnh sự thật cho vừa lợi ích. Vẫn đi lễ, vẫn cầu nguyện, vẫn giữ luật – và cùng lúc, giữ lại một góc tối không muốn Chúa bước vào. Lên án cái ác ngoài xã hội, nhưng chúng ta bao che cái sai trong lòng. Khi ấy, không chỉ phạm tội; chúng ta đánh mất sự thật về chính mình. Và sự tự lừa dối ấy mới là vực sâu thật sự.

Nếu ranh giới thiện ác chạy qua tim mỗi người, thì ơn cứu độ cũng đi qua trái tim ấy. Không đến để chỉnh sửa bề mặt, Chúa Giêsu đến chiếm lấy nội tâm; không chỉ để chúng ta làm điều đúng, nhưng để chúng ta yêu điều đúng; không chỉ để tránh tội, nhưng để trái tim không còn muốn tội. Vì nếu nguồn được thanh luyện, dòng chảy sẽ trong; nếu gốc được chữa lành, hoa trái sẽ tuyệt vời. “Điều tuôn ra từ bạn xuất phát từ những gì ở bên trong bạn!” – Richard Rohr.

Anh Chị em,

Hãy nhìn vào Chúa Giêsu. Tâm Ngài không chia đôi nhưng thuộc trọn về Cha; vì thế, không có khoảng tối cho thù hận. Mở trọn cho các linh hồn, nên tâm Ngài không giữ lại điều gì cho riêng mình. Bị xúc phạm, Ngài không nuôi giận; bị phản bội, Ngài không khép lại; bị đóng đinh, Ngài vẫn hướng về Cha và cầu cho người gõ búa. Nơi Ngài, bên trong và bên ngoài là một – không giả hình, không hai mặt, không bóng tối giấu kín. Đó là tự do của Con Một, và là con đường Ngài mở ra cho ơn cứu độ chúng ta. Cuộc chiến thật không ở ngoài đời; nó ở trong tim – ‘tội tại tâm’. Và chiến thắng không bắt đầu bằng việc sửa người khác, nhưng bằng việc để Chúa chạm tới nơi sâu nhất của mình. “Những gì ta đạt được bên trong sẽ biến đổi thực tại bên ngoài!” – Plutarch.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin soi thấu những chuyển động thầm kín của con; thanh luyện trái tim còn chia đôi của con; cho tâm con thuộc trọn về Cha và mở ra cho các linh hồn!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

****************************************** 

LỜI CHÚA CHÚA NHẬT TUẦN VI THƯỜNG NIÊN, NĂM A

Anh em đã nghe luật dạy người xưa. Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu    Mt 5, 20-22a.27-28.33-34a.37

20“Khi ấy, Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng: “Thầy bảo cho anh em biết, nếu anh em không ăn ở công chính hơn các kinh sư và người Pha-ri-sêu, thì sẽ chẳng được vào Nước Trời.

21“Anh em đã nghe Luật dạy người xưa rằng : Chớ giết người ; ai giết người, thì đáng bị đưa ra toà. 22Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết : Ai giận anh em mình, thì đáng bị đưa ra toà. 

27“Anh em đã nghe Luật dạy rằng : Chớ ngoại tình. 28Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết : ai nhìn người phụ nữ mà thèm muốn, thì trong lòng đã ngoại tình với người ấy rồi. 

33“Anh em còn nghe Luật dạy người xưa rằng : Chớ bội thề, nhưng hãy trọn lời thề với Đức Chúa. 34aCòn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết : đừng thề chi cả. 

37Nhưng hễ ‘có’ thì phải nói ‘có’, ‘không’ thì phải nói ‘không’. Thêm thắt điều gì là do ác quỷ. 


 

Lịch sử Ngày Tình Nhân (Valentine’s Day) – Cha Vương

Happy Valentine Bạn nhé! Ước mong Bạn yêu thật nhiều, nhiều đến nỗi quên đi cái đáng ghét của nhau hôm nay nhé.

Cha Vương

Thứ 7: 14/02/2026. (t6-25)

Lịch sử Ngày Tình Nhân (Valentine’s Day) vẫn còn là điều bí ẩn. Nhưng nhìn vào vết tích của truyền thống Kitô giáo và truyền thống La Mã, bạn thấy việc chọn thánh Valentine là thánh quan thầy của Lễ hội này cũng là điều hợp lý.

Người ta nghĩ rằng Thánh Valentine (c. 269) đã từng là linh mục ở Rôma cũng như là một y sĩ dưới thời  hoàng đế Claude II gốc Gothique. Người bị bắt và bi cầm tù mà người quản lao là một sĩ quan có một người con gái bị mù. Thánh nhân đã chữa cho cô con gái khỏi mù làm cho vị sĩ quan và gia đình trở lại đạo. Khi hay tin ấy, nhà vua ra lệnh chém đầu. Vì không chịu từ bỏ đức tin, ngài được tử đạo vào ngày 14 tháng Hai. Chúng ta không biết gì nhiều về ngài, nhưng ngay vào khoảng năm 350, một nhà thờ đã được xây cất nơi ngài tử đạo.

Truyền thuyết nói rằng ngài là một linh mục thánh thiện đã cùng với Thánh Marius giúp đỡ các vị tử đạo trong thời Claudius II. Ngài bị bắt, và bị gửi cho tổng trấn Rôma xét xử. Sau khi dụ dỗ mọi cách nhưng đều vô hiệu, quan tổng trấn đã ra lệnh cho lính dùng gậy đánh đập ngài, sau đó đưa đi chém đầu vào ngày 14 tháng Hai, khoảng năm 269. Người ta nói rằng Ðức Giáo Hoàng Julius I đã cho xây một nhà thờ gần Ponte Mole để kính nhớ ngài.

Nhiều giả thuyết khác nhau về nguồn gốc việc cử hành ngày Valentine. Một số cho rằng người Rôma có một tập tục vào giữa tháng Hai, trong ngày ấy các con trai tô điểm tên các cô con gái để tỏ lòng tôn kính nữ thần dâm dục là Februata Juno. Các tu sĩ thời ấy muốn dẹp bỏ tập tục này nên đã thay thế bằng tên các thánh tỉ như Thánh Valentine. Một số khác cho rằng thói quen gửi thiệp Valentine vào ngày 14 tháng Hai là vì người tin tin rằng các con chim bắt đầu sống thành cặp vào ngày này, là ngày Thánh Valentine bị chém đầu.

Dường như chắc chắn hơn cả là vào năm 1477, người Anh thường liên kết các đôi uyên ương với ngày lễ Thánh Valentine, vì vào ngày này, 14 tháng Hai, “mọi chim đực đi chọn chim mái.” Tục lệ này trở thành thói quen cho các đôi trai gái viết thư tình cho nhau vào ngày Valentine. Và ngày nay, các cánh thiệp, quà cáp và thư từ trao cho nhau là một phần của việc cử hành Ngày Valentine. 

(Nguồn: Người Tín Hữu)

Để mừng kính thánh Valentine mời bạn tìm cách để hàn gắn lại những tổn thương và bất đồng trong mối quan hệ với người khác vì yêu không đúng cách nhé. 

From: Do Dzung

**********************

Xin Định Nghĩa Tình Yêu – Phi Nguyễn (St: Cao Huy Hoàng) 

Ngôi mộ của Caroline Christine Walter-Truyen ngan HAY

Pane e Vino – 3 Nguyễn Khắc Cần

Ngôi mộ của Caroline Christine Walter nằm yên giữa nghĩa trang cổ ở Freiburg như một khoảng lặng dịu dàng của thời gian. Bức tượng đá tạc hình một thiếu nữ đang khép mắt, tay vẫn giữ cuốn sách, dáng nằm thanh thản như vừa trôi vào giấc ngủ. Rêu phủ mềm trên từng nếp áo, trên mái tóc và gương mặt, khiến toàn bộ khối đá mang cảm giác sống chậm, như đang thở cùng nhịp của đất trời. Không có bi thương dữ dội, không có kịch tính tang tóc, chỉ có sự an nhiên hiếm thấy trong nghệ thuật mộ phần thế kỷ XIX.

Caroline sinh năm 1850 trong một gia đình nghèo ở Đức. Sau khi cha mẹ qua đời, cô cùng chị gái Selma về sống với ông bà tại Freiburg. Tuổi trẻ của Caroline trôi qua giản dị, êm đềm, cho đến năm 1867, khi cô mắc bệnh lao và qua đời chỉ sau vài tuần, lúc mới 17 tuổi. Cái chết đến quá nhanh, để lại trong Selma một khoảng trống không thể lấp đầy. Chị gái đã chọn cách giữ Caroline ở lại bằng nghệ thuật. Selma cho tạc một pho tượng kích thước như người thật, khắc họa Caroline trong tư thế đang ngủ, vừa đọc sách, như thể sự sống chỉ tạm dừng lại trong khoảnh khắc rất nhẹ.

Chất liệu đá vôi được chọn vì độ mềm vừa đủ để diễn tả những nếp vải rủ, bàn tay thả lỏng, gương mặt an hòa. Tác phẩm mang tinh thần điêu khắc tang lễ châu Âu cuối thế kỷ XIX, khi cái chết được thể hiện như một giấc ngủ, nơi vẻ đẹp con người được lưu giữ trọn vẹn thay vì nhấn mạnh nỗi mất mát. Đó là cách nghệ thuật xoa dịu bi kịch bằng sự thanh khiết.

Vài tuần sau lễ an táng, Selma nhận ra những bông hoa héo mà cô đặt lên mộ đã được thay bằng hoa tươi. Cô tin rằng có một người thầm mến Caroline khi còn sống đã đến viếng. Điều ấy nghe có vẻ tự nhiên, bởi Caroline được nhiều người yêu quý. Nhưng điều kỳ lạ nằm ở chỗ, những bó hoa ấy không hề dừng lại. Selma già đi rồi qua đời, nghĩa trang thay đổi, thế kỷ trôi qua, chiến tranh và hòa bình nối tiếp, vậy mà hoa tươi vẫn xuất hiện đều đặn trên ngôi mộ.

Hơn một trăm năm rưỡi trôi qua, không ai biết ai là người mang hoa. Không có lời nhắn, không có chữ ký, không có dấu vết để lại ngoài những bông hồng, nhành hoa dại, bó cúc nhỏ được đặt khẽ trên thân tượng phủ rêu. Một nghi thức lặng lẽ, bền bỉ đến khó tin, như một lời hứa không thành văn giữa những con người chưa từng gặp nhau.

Câu chuyện của Caroline không dừng lại ở số phận một thiếu nữ đoản mệnh, mà mở rộng thành câu chuyện về ký ức được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng lòng trắc ẩn vô danh. Selma gửi tình yêu của mình vào đá. Những người không tên gửi sự hiện diện của mình vào hoa. Ngôi mộ trở thành nơi giao nhau giữa quá khứ và hiện tại, nơi con người kết nối với nhau bằng một cử chỉ giản dị nhưng sâu sắc: không để một vẻ đẹp bị quên lãng.

Có lẽ chính sự im lặng tạo nên sức mạnh cho câu chuyện này. Không ai cần được ghi nhận, không ai cần lời đáp lại. Chỉ cần hoa tươi tiếp tục được đặt xuống, năm này qua năm khác, như một lời thì thầm rằng Caroline vẫn đang hiện diện trong ký ức nhân gian, không bằng tên tuổi, mà bằng sự dịu dàng bền bỉ của lòng người.

#CarolineChristineWalter #GraveWithFlowers #FreiburgCemetery #VictorianTombSculpture #MemorialArt #EternalRemembrance #SilentTribute #LoveBeyondTime #StoneAndMemory #MysteriousVisitors

May be an image of monument


 

KỶ YẾU MỘT “H.O”…Truyen ngan HAY

Xuyên Sơn

 KỶ YẾU MỘT “H.O”……

Tôi rất thích bài viết này nên Share lại. Lần nào đọc lại cũng cảm xúc này, nghẹn ngào xúc động.

Cha Mẹ tôi vốn là phú nông, còn buôn bán thêm từ Huế ra Vinh.

Hồi nhỏ, tôi học trường Don Bosco tại Quảng Trạch –  Quảng Bình,

do các Cha và các Thầy dòng dạy.

Tháng Bảy 1954, hiệp định Genève ngừng bắn, gia đình tôi Di cư vào Nam lập nghiệp tại Kim Long – Huế.

Vào Nam tôi học các trường Nguyễn Công Trứ – Phan Thanh Giản

– Sao Mai.

Ra trường đi làm và tự lập.

Năm 1959, Cha Mẹ từ Huế vào cưới vợ cho tôi tại Ðà Nẵng.

Ðến năm 23 tuổi, tôi được động viên học khóa 12 Trần Hưng Ðạo

– Sĩ quan Thủ Ðức.

Tháng Tám 1960 ra trường với cấp bậc Chuẩn úy. Ðược tuyển chọn một trong số 10 người trên 1250 sinh viên, về ngành An Ninh Quân Ðội ANQĐ – Bộ Quốc Phòng.

Ðậu thủ khoa trên 25 Sĩ quan và trên 100 Hạ sĩ quan, tôi được Ðại tá Ðỗ Mậu – Giám đốc Nha ANQÐ – Bộ Quốc Phòng, sau là Thiếu tướng thông tin, trao bằng Danh dự cùng quà tặng trước sự hiện diện của Quân nhân, gia đình binh sĩ và ban Văn nghệ bậc nhất thời bấy giờ.

Ra trường, tôi được Ðại úy Dương Tiến, sau là Trung tá Chánh Sở I ANQÐ, giới thiệu về làm việc ở Sở I ANQÐ.

Tôi được chỉ định làm Trưởng Ban I. Phòng Nhân viên, theo dõi điều chỉnh hồ sơ, vẽ sơ đồ..

Sau một thời gian, tôi nhận được công điện thuyên chuyển về cục ANQÐ tại Saigon, được “bố trí” trưởng ban I, phòng bảo vệ do Ðại úy Phạm Thành Kiếm làm Trưởng phòng.

Tại Cục ANQÐ, tôi được yêu cầu huấn luyện cho Sĩ quan, Hạ sĩ quan về đề tài bảo vệ Cơ sở.

Sau đó lại được hoán đổi về Sở I ANQÐ tại Ðà Nẵng, Sở yêu cầu tôi tổ chức liên tục các khóa An ninh căn bản cho Sĩ quan, Hạ sĩ quan An ninh trong đơn vị, trong số học viên khóa tu bổ tại Ðà Nẵng có Trung tá Tài là cấp bậc lớn nhất.

Mỗi khóa học một tháng, số học viên từ 40 đến 50 người, bằng cấp do Trung tá chánh Sở ký, với kiến thị của Trung tướng Tư lịnh Quân đoàn I.

Sau đó tôi được theo học hai khóa cấp I và cấp II tình báo tại trường Quân báo Cây Mai, rồi Du học tại trường phản tình báo Okinawa – Nhật Bản, tốt nghiệp hạng ưu.

Ðại tá Chu Văn Sáng về làm Chánh Sở I ANQÐ, gia đình tôi được cho ở trong dãy nhà Sĩ quan tại sở.

Trong 17 năm làm việc tại Sở I ANQÐ, tôi đã giữ các chức vụ:

Phụ tá Trưởng ty ANQÐ Quảng Trị, phụ tá Trưởng Phòng An Ninh Quân đoàn cho Thiếu tá Hồ Văn Thống, Trưởng phòng Ban Khai Thác,

Chánh văn phòng.

Ngày 1 tháng 3, Ðại tá Sáng vào Nha Trang nhận chức Chánh Sở II ANQÐ, tôi vào nhận chức Trưởng chi ANQÐ Ninh Hòa.

Sau đó tôi làm Trưởng ban phản tình báo Cam Ranh – Khánh Hoà cho tới ngày “mất nước”, thầy trò dắt nhau đi ở tù “cải tạo”

Sau 30/4/1975, vợ và các con tôi không nhà, không nơi nương tựa phải đi “kinh tế mới”.

Mấy mẹ con lên kinh tế mới được một năm thì vợ tôi bị bịnh sốt rét,

và qua đời tại bịnh viện Khánh Hòa.

Cha Mẹ tôi đưa xác về chôn cất tại Cam Ranh.

Một người vợ hiền lành, mảnh mai, lâm cảnh cơ hàn, chết bơ vơ trong cảnh đổi đời.

Các con mồ côi, đào bới đất đá nơi núi rừng mà sống.

Còn tôi trong trại tù, lao động cực khổ, sắn ăn cầm hơi.

Tôi lãnh “ba nhiệm kỳ”, chín năm tù, ra trại bị quản chế tại kinh tế mới ở Khánh Hòa ba năm.

Ở trại tù miền Bắc, tôi được cho đi làm ngoài, toán sáu người đi chặt nứa.

Anh em lo chặt nứa phần của tôi, để tôi vào nhà dân mua bán đổi chác giùm anh em.

Anh em đưa áo quần cho tôi nhờ đổi con gà luộc hoặc ký đường cát.

Nhờ vậy mà mỗi ngày tôi có điều kiện luộc sắn cho anh em ăn, còn đem về trại cho một hai anh em bạn thân khác, trong số có người bạn quê Lệ Thủy là ưu tiên.

Về sau, hắn đổi qua láng khác, tôi vẫn cho đồ ăn, nhưng hắn ghen tỵ nên báo cáo để cán bộ bắt quả tang.

Thật ra, mua bán đổi chác chỉ nhốt năm ba bữa, nhưng tôi bị xui là buổi sinh hoạt đêm qua, tôi phát biểu về mánh khóe bớt xén gạo nhà bếp của Thượng úy Tẩu làm hậu cần, quê ở Quảng Nam.

Tên này, do tôi tố cáo với Thượng úy Huệ, Sĩ quan thanh tra liên trại,

nên bị sa thải tại chỗ.

Tuy nhiên đêm trước đó, hắn đã ra lệnh nhốt tôi phòng cách biệt,

phòng cách biệt rộng khoảng 1 thước vuông, làm bằng nứa, đổ đất ở giữa. Đêm đến hắn cho lính canh vào đánh tôi, may là tụi lính canh thương hại nên chỉ đánh đá vào vách tường.

Tuần đầu tôi bị nhốt, do Trung sĩ Phát trông coi rất dễ chịu.

Tuần thứ hai, tên Trung sĩ Minh đổi toán thay cho Trung sĩ Phát.

Bàn giao xong, tên Trung sĩ Minh đi một mình xuống trại giam, bắt trói hai tay tôi ra sau, vào cột nhà.

Hắn đánh đập vào đầu, đá vào ngực tôi liên tục nhiều giờ.

Biết tên này hung dữ, lỡ đánh chết mình thì oan, hắn mang lòng thù oán vì có hai người anh tử trận ở miền Nam, tôi giả vờ nói:

“Qua một tuần lễ suy nghĩ, tôi biết việc làm sai trái, cán bộ để tôi cung khai, cả người mua lẫn người bán”.

Hắn tin, đưa tôi lên bàn ăn ngoài láng, đưa bút giấy cho tôi khai.

Hắn giao cho tên Ngọc là Tàu lai đứng trên chòi, canh chừng tôi.

Hết giờ làm việc, tên Ngọc quay mặt ra ngoài, chậm rãi đánh kiểng.

Đây là giờ khởi sự cho việc trốn trại của tôi.

Tôi vội chạy vào trại thay bộ đồ đi rừng, chụp cái nón lá, đạp hàng rào ra ngoài, rồi lẻn quay ngược lên khu vệ binh riêng biệt cạnh trại để trốn.

Bọn chúng không ngờ tôi còn ở trong trại, nên rải quân hàng ngang từ lính chí quan, lần lượt từ đồi sắn này đến đồi sắn khác, cán bộ dùng loa kêu gọi bảo lãnh tánh mạng cho tôi.

Ðến khoảng 2 giờ, mệt lả, đói bụng, chúng kéo nhau về.

Tôi xuống đồi, đến nhà anh Triệu Mai Tân, vợ anh người Tày tên Nghĩa.

Anh cho tôi bộ bà ba đen, một dao phay và một cái nón cối.

Trước giờ chia tay, tôi nhờ anh lên đồi đốn cho năm cây nứa cỡ bằng cườm chân để vượt hồ Thác Bà rộng chừng hai cây số.

Trời tối đen, tôi vượt hồ Thác Bà.

Ra giữa hồ tôi phải tránh né những bè mảng của dân câu cá.

Trong lúc đó, trại cũng cho đốt đuốc truy lùng.

Tôi lên núi, đi bốn ngày đêm, ăn sắn tươi, bắp sống.

Công an, du kích, dân làng các xóm truy lùng tôi ngày đêm. Khi họ cầm đèn bão, bao vây chỉ còn cách nơi tôi trốn khoảng 50 mét, tôi biết mình sẽ bị bắt và sẽ bị đánh đến chết, tôi đọc kinh cầu nguyện dọn mình chịu chết. Bỗng trời đổ cơn mưa gió dữ dội, chịu không nổi vừa mưa gió vừa lạnh, nên họ từ từ rút dần xuống đồi.

Cảm tạ ơn Chúa, Mẹ đã cho tôi thoát chết.

Qua một ngày lội theo ven suối, vào khoảng sáu giờ chiều,

tôi vào trình diện liên trại.

Tôi được mấy ông Trung tá, Thiếu tá ở liên trại chỉ thị nhà bếp cho tôi một dĩa cơm.

Ăn xong, Thượng úy Huệ dùng đèn pin dẫn qua cánh đồng đưa đến trại 4. Ông này lấy thêm lời khai của tôi vụ Thượng úy Tẩu bớt xén gạo nhà bếp, chi tiết do anh Châu đầu bếp cho tôi biết.

Anh này bị lật mảng, chết đuối tại hồ Thác Bà khi mang cơm cho anh em lao động ăn trưa tại chỗ.

Trung tá Luyện ở trại cũ mang tư trang lên cho tôi, có tên Ngọc gác cổng dẫn đi.

Tên Ngọc đi lên với hy vọng đánh tôi vài báng súng.

Thiếu úy Huệ ở liên trại bảo hắn ra ngoài chờ bàn giao nên tôi thoát bị đòn.

Tôi được chuyển về trại 3 Tân Kỳ – Nghệ Tĩnh, được chỉ định làm tổ trưởng tổ chuyển vận gồm 10 người từ năm 1982.

Đến năm 1984 tôi được thả về.

Tôi về, ở cùng các con vùng kinh tế mới làm ruộng rẫy, chặt lồ ô về chẻ hom đem ra chợ bán.

Cuộc sống Cha con khổ cực, cơm độn khoai sắn, mắm muối qua ngày.

Tại đây, người ta tổ chức một cuộc tập trung nhân dân toàn xã, bắt tôi đọc tiểu sử.

Trưởng công an huyện nói:

“Tiểu sử của anh rất huy hoàng, nhưng anh sống trên xương máu của nhân dân”.

Tôi trả lời:

“Sống chế độ nào, phục vụ chế độ đó, chính phủ trả lương, tôi chẳng bóc lột xương máu nhân dân bao giờ”.

Kết luận, hắn khuyên tôi hòa mình với nhân dân, xây dựng Xã hội Chủ nghĩa. Tôi bị trưởng Công an huyện, tù ở đảo về, coi trọng vì tôi là Sĩ quan ngành An ninh phản tình báo.

Hắn buộc tôi phải ghi vào một quyển sổ những gì đã học tập, lao động,

sinh hoạt hằng ngày..

Trình diện, báo cáo cho Công an xã hàng tuần, Công an huyện hàng tháng, suốt ba năm.

Mấy năm sau, nhiều người lo thủ tục giấy tờ đi Mỹ diện “H.O”.

Cái khó khăn bấy giờ của chúng tôi là tiền đâu để lo thủ tục và ở ngoài Trung xa Saigon.

Tôi chạy đến anh em, bà con họ hàng xin xỏ vay mượn, được chừng nào thì lo chừng đó.

Thật tình thì Cha con chúng tôi cũng không hy vọng gì mấy, làm hồ sơ thì làm chứ không có đủ tiền để lo lót đến nơi đến chốn, chỉ cầu may.

Chờ đợi mấy năm, chúng tôi nhận được giấy báo, rồi giấy phỏng vấn. Chúng tôi lại chạy vay tiền bạc vào Saigon phỏng vấn, khám sức khỏe. Cuối cùng, chúng tôi cũng tới được ngày được đi Mỹ.

Từ chốn núi rừng đói rách, đặt chân lên đất Mỹ Văn minh, nhà cao, đường lớn, tâm trạng chúng tôi thật háo hức và cũng đầy âu lo.

Gia đình tôi đến Mỹ năm 1994.

Sau 16 năm định cư tại Hoa Kỳ, các con tôi ai cũng từ độc thân,

tay trắng, nay đều đã có gia đình, con cái, nhà cửa, xe cộ.

Cuộc sống chúng tôi mọi sự thật đầy đủ, hạnh phúc, duy chỉ có điều buồn là tôi sắp lìa xa các con cháu vì tôi bị ung thư giai đoạn cuối.

Nằm nhà thương, như cây đèn cạn dầu, tôi thở, ăn uống bằng những ống dây, không nói được lời nào đã gần hai năm nay.

Thân xác tôi ốm yếu, nhỏ thó như một đứa con nít thiếu ăn, tinh thần yếu kém, mọi chăm sóc cá nhân đều nhờ người khác.

Bác sĩ nói, tôi không còn sống được bao ngày nữa.

Thế là hết một kiếp người.

Cảm tạ ơn trên đã quan phòng,

che chở cho gia đình tôi bình yên. Cám ơn các ân nhân đã giúp Cha con tôi được định cư tại Hoa Kỳ.

“H.O” – 26, viết trên giường bệnh trước khi từ giã gia đình và bằng hữu…..

            Phuoc An Thy.

Nguồn fb Minh Anh Jessica

No photo description available.


 

SỰ CÔNG CHÍNH VÀ NHỮNG “LƯỠI DAO” VÔ HÌNH – Lm Paul N.N

Lm Paul N.N

 Chúng ta đang sống trong một thời đại mà ranh giới giữa sự sống và cái chết đôi khi chỉ cách nhau một cái “click” chuột hay một dòng bình luận trên mạng xã hội.  Cách đây không lâu, dư luận từng bàng hoàng trước câu chuyện về một nữ sinh trung học.  Chỉ vì một vài tấm ảnh bị cắt ghép và những lời đồn thổi ác ý trên Facebook, cô bé đã phải gánh chịu làn sóng “bạo lực mạng” khủng khiếp.  Hàng ngàn người không hề quen biết đã nhảy vào sỉ nhục, chửi bới bằng những lời lẽ tàn độc nhất.  Không chịu nổi sức ép của dư luận và sự nhục nhã, cô bé đã chọn cách tự kết thúc cuộc đời mình để chứng minh sự trong sạch.

Chúng ta thường bước vào nhà thờ với một sự an tâm nhất định về lương tâm mình.  Chúng ta tự nhủ: “Tôi không trộm cắp, tôi không ngoại tình, và quan trọng nhất, tôi không giết người.”  Thế nhưng, trong Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu đã dùng một thanh gươm sắc bén của Lời Chúa để đâm thấu vào sự tự mãn đó.  Ngài kiện toàn lề luật cũ không phải bằng cách nới lỏng, mà bằng cách đẩy nó đến tận cùng của căn nguyên: trái tim con người.

Chúa nói: “Anh em đã nghe Luật dạy rằng: Chớ giết người…  Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết: Ai giận anh em mình, thì đáng bị đưa ra tòa.”  Chúa đang chỉ cho chúng ta thấy một thực tế phũ phàng: Có những cái chết không cần đến gươm giáo, và có những kẻ sát nhân vẫn đang thản nhiên mặc áo trắng đi dự tiệc thánh mỗi ngày.  Đó chính là tội “giết người không dao.”  Hãy nhìn vào xã hội hôm nay, nơi mà không gian mạng đã trở thành một “pháp trường” không tiếng súng.  Mỗi dòng bình luận ác ý là một nhát dao.  Mỗi lượt chia sẻ đầy sự phán xét là một lần bóp cò.  Nạn nhân ngã xuống, còn những kẻ “sát nhân mạng” vẫn vô tư tắt máy tính, đi ngủ và tin rằng mình vẫn là người công chính vì đôi tay họ chưa hề chạm vào máu.  Nhưng “vũ khí” không chỉ nằm trên bàn phím.  Nó nằm ngay trong lời nói hằng ngày của chúng ta.  Một lời vu khống có thể hủy hoại cả danh dự của một đời người.  Một sự im lặng lạnh lùng trong gia đình có thể giết chết niềm vui của người bạn đời.  Một ánh mắt khinh miệt có thể dập tắt hy vọng của một người đang lầm lỡ. 

Chúa Giêsu trong Tin Mừng hôm nay đã thấu suốt bản chất của sự ác khi Ngài dạy: “Ai mắng anh em mình là đồ ngốc, thì đáng bị đưa ra hỏa hình.”  Ngài cảnh báo chúng ta rằng, tội giết người không chỉ bắt đầu khi máu chảy, mà nó bắt đầu ngay từ khi sự kính trọng đối với nhân phẩm người khác bị dập tắt trong lòng chúng ta.

 Ngày nay, “giết người không dao” còn mang nhiều hình thái tinh vi và đáng sợ hơn nữa:

 Giết chết danh dự bằng sự vu khống: Chúng ta dễ dàng chia sẻ một tin đồn thất thiệt về đồng nghiệp, về người láng giềng mà không cần kiểm chứng.  Một khi danh dự bị bôi nhọ, dù sau này có được minh oan, vết sẹo trong lòng họ và cái nhìn của xã hội vẫn không bao giờ mờ đi. 

Giết chết tâm hồn bằng sự lạnh lùng: Trong gia đình, đôi khi vợ chồng không đánh chửi nhau, nhưng lại dùng “chiến tranh lạnh.”  Sự im lặng đáng sợ, sự thờ ơ không quan tâm đến cảm xúc của nhau cũng là một cách giết chết dần mòn mầm sống của tình yêu và sự hạnh phúc.

 Giết chết tương lai bằng sự xét đoán: Khi chúng ta dán nhãn một người lầm lỡ là “kẻ xấu” và không cho họ cơ hội phục thiện, chúng ta đang đóng sầm cánh cửa cuộc đời của họ.  Đó là một kiểu giết chết niềm hy vọng. 

Thưa cộng đoàn, Sự công chính mà Chúa đòi hỏi ở người Kitô hữu là một sự công chính đầy xót thương.  Chúa không chỉ bảo ta đừng cầm dao, mà Ngài còn bảo ta hãy để của lễ lại trên bàn thờ mà đi làm hòa với anh em trước đã.  Thiên Chúa không chấp nhận của lễ từ những bàn tay đang nắm chặt sự oán hờn.  Ngài không nghe lời kinh từ những đôi môi vừa mới thốt ra những lời độc địa làm tan nát lòng người.  Chúa dạy chúng ta rằng, nếu tay ta sạch mà lòng chúng ta đầy nọc độc của sự giận ghét, thì chúng ta vẫn chưa thể bước vào Nước Trời.  Người công chính không chỉ là người không cầm dao, mà là người biết dùng môi miệng để chúc lành, dùng đôi tay để nâng dậy, và dùng trái tim để bao dung cho những khiếm khuyết của anh em mình. 

Xin Chúa giúp chúng ta ý thức rằng, mỗi lời nói của mình đều có sức mạnh: hoặc là gieo mầm sống, hoặc là gieo sự chết.  Xin cho chúng ta luôn chọn gieo mầm sống bằng tình yêu và sự thật.  Xin ban cho chúng con một trái tim mới – một trái tim đủ rộng lớn để bao dung, đủ khiêm nhường để làm hòa, và đủ công chính để sống theo sự thật.  Nhờ đó, cuộc đời chúng con sẽ trở thành một bài ca chúc tụng lòng thương xót Chúa, hôm nay và mãi mãi. Amen. 

Lm Paul N.N

From: Langthangchieutim


 

Vừa trải qua một tai nạn. Bài viết của Phùng Văn Phụng

 Bài viết của Phùng Văn Phụng

Tối thứ sáu đầu tháng, ngày 06 tháng 02 năm 2026, tôi đi dự lễ cầu nguyện cho hòa bình thế giới ở nhà thờ Ngôi Lời Nhập Thể, có chở cháu nội là Jayden đi sinh hoạt lớp Thêm sức 1. Thánh lễ ở nhà thờ kết thúc khoảng 8 giờ 10 tối, tôi cùng cháu nội ra xe để về nhà.

Tôi đang chạy trên đường Kirkwood từ hướng Nam lên hướng Bắc. Khi vừa chạy đến đường Carvel, có chiếc xe BMW, chạy từ đông sang tây, đụng thẳng vào bên mặt của chiếc xe Venza tôi đang chạy. Hai cánh cửa bên phải dẹp nát, hoàn toàn hư hại. Có lẽ trời tối, tài xế người Mễ không thấy xe phía trước đang chạy tới. Xe tôi bị hư hại nặng, phải bị “total loss”. Xe hư hại hoàn toàn, hảng bảo hiểm mang đi.

Tôi bị đau ngay cần cổ bên phải, tha dầu nóng, thường xuyên, mấy ngày nay mà không có kết quả gì và không biết có thương tích gì nặng không? Thầy Bạch và các bạn gọi hỏi thăm và nói là sẽ cầu nguyện cho.

Sáng thứ tư, ngày 11 tháng 2 năm 2026 đi chụp hình cần cổ, ở phòng mạch bác sĩ Vũ Giang, kết quả tốt. Mặc dầu đây là tai nạn lớn nhưng không có xảy ra thương tích gì trầm trọng, nguy hiểm đến tính mạng.

Tạ ơn Chúa

Cũng là tai nạn cũ.

Lần trước cách nay khoảng hơn 10 năm cũng bị đụng xe. Tôi đang chạy trên đường Beechnut, xe đang chạy bình thường, đến ngả tư Beechnut và Wilcrest đèn xanh bật lên. Xe tôi đang chạy, gặp đèn xanh nên tôi chạy luôn, không có ngó hai bên.  Trên đường Wilcrest cắt ngang Beechnut, bên trái tôi, có một cô gái khoảng 18, 20 tuổi vượt đèn đỏ, đụng vào đầu xe Camry của tôi, nên xe tôi bị xoay 90 độ, rồi có chiếc xe phía sau chạy tới, đụng vào hông xe bên phải của tôi, nên xe bị hư hại nặng, bị “total loss” (bị hảng kéo đi). Vì xe quay 90 độ, người tôi quay theo chiều kim đồng hồ, cũng 90 độ, nên tôi không có bị thương tích gì.

Thiên Chúa đã che chở tôi trong hai tai nạn lớn này.

Tạ ơn Chúa.

Ngày 11 tháng 2 năm 2026

(Ngày lễ Đức Mẹ Lộ Đức- Ngày thế giới bịnh nhân)

May be an image of car

Mọi người chúng ta có thể nên “thánh” được không? – Cha Vương

Chúc bạn cảm nhận được sự hiện diện của Thiên Chúa trong mỗi việc làm trong ngày nhé!

Cha Vương

Thứ 6: 13/2/2026. (t5-25)

GIÁO LÝ: Mọi người chúng ta có thể nên “thánh” được không? Có chứ. Mục đích cuộc sống là kết hợp với Thiên Chúa trong tình yêu và hoàn toàn sống như ý Chúa muốn. Chúng ta cần để “Chúa sống trong ta” (Mẹ Têrêsa Calcutta). Ông thánh, bà thánh là thế đó. (YouCat, số 342)

SUY NIỆM: Mọi người đều đặt câu hỏi: Tôi là ai? Tại sao tôi lại ở đây? Và tương lai của tôi là gì? Đức tin trả lời: Chính trong việc nên thánh mà con người trở nên điều mà Chúa đã tạo dựng họ. Chính trong thánh thiện mà con người đạt tới hòa hợp với chính mình và với Đấng Tạo Hóa. Nhưng sự thánh thiện không phải là sự hoàn hảo được tự tạo mà có, nó phải là sự hiệp nhất với tình yêu đã làm người, đó là Chúa Kitô. Ai kiếm tìm cuộc sống mới đó là tìm được chính nó và trở nên thánh. (YouCat, số  342 t.t.)

❦  Không ai chọn cho mình một ơn gọi, ta phải đón nhận ơn gọi và cố gắng để nhận ra ơn gọi. Ta phải lắng nghe tiếng Chúa gọi để nhận ra một dấu hiệu của ý Chúa. Và một khi đã nhận ra ý Chúa, cần phải làm theo luôn luôn mặc dầu có thế nào và phải trả giá đắt bao nhiêu. (Chân phước Charles de Foucauld)

LẮNG NGHE: Anh em cần phải kiên nhẫn, để sau khi thi hành ý Thiên Chúa, anh em được hưởng điều Người đã hứa. (Dt 10:36)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, xin giúp con luôn gắn bó mật thiết với Chúa để được sống trong ân nghĩa Chúa, là nguồn hạnh phúc đích thực của con. 

THỰC HÀNH: Bỏ ra ít phút để kết hợp với Chúa trong thinh lặng hôm nay.

From: Do Dzung

*********************

Nên Thánh Giữa Đời – Sr Têrêsa / Ca sĩ Xara Trần