63 NGƯỜI DÂN TƯƠNG TÁC VỚI KÊNH CỦA ÔNG LÊ TRUNG KHOA BỊ “BẾ LÊN ĐỒN”

Việt Tân 

 63 NGƯỜI DÂN TƯƠNG TÁC VỚI KÊNH CỦA ÔNG LÊ TRUNG KHOA BỊ “BẾ LÊN ĐỒN”

Vừa qua, công an tỉnh Quảng Ngãi đã triệu tập 63 người dân với cáo buộc “tương tác, chia sẻ thông tin xấu độc” trên mạng xã hội. Và kênh mà những người này thường xuyên tương tác là của ông Lê Trung Khoa, người từng bị chính quyền Việt Nam kết án vắng mặt 17 năm tù giam bởi cáo buộc “tuyên truyền chống phá nhà nước”.

Hai trong số 63 người bị triệu tập lần này đã phải đóng phạt 12,5 triệu đồng, những người còn lại “may mắn” hơn chỉ bị răn đe.

Cả một chính quyền cộng sản với hàng triệu tay sai, là công an, dân phòng, bảo vệ dân phố, thế mà lại sợ một người đàn ông ngoài 50 tuổi, lại còn sống cách Việt Nam gần nửa vòng trái đất.

Chỉ vài lời nói của ông Lê Trung Khoa có thể làm cả chế độ cộng sản run sợ. Tại sao? Chỉ có thể là vì những lời ông ấy nói là sự thật, là điều mà chính quyền luôn muốn che giấu. Chế độ này không thể bịt miệng ông Khoa như cách họ vẫn thường làm với dân thường trong nước, nên chỉ biết đe dọa những người yếu thế hơn.

Thay vì tìm cách bịt miệng những người đối đầu, chính quyền nên dành thời gian chăm lo cho đời sống của người dân. Vì cây ngay thì sẽ không sợ bị chết đứng.


 

CHỒNG ĐIÊN – Truyen ngan HAY

Nguyen Thi Chau

 CHỒNG ĐIÊN

Đó là đêm mưa bão, chị bị sốt, anh chạy ngược chạy xuôi lo cho chị. Nửa đêm, nhắm tình hình không ổn, mặc trời mưa gió, anh bế chị vào viện. Vừa chạy vừa kêu tên chị mãi, không có tiền, vay mượn mãi chỉ đủ cho chỉ nằm trong một ngày. Sáng hôm sau, anh phải đi bán máu để có tiền mua thuốc cho chị. Những ngày chị bệnh, anh phải một tay kiếm tiền, một tay nấu cháo, thuốc thang cho chị. Để có tiền anh phải làm việc nhiều hơn trong tình trạng mệt mỏi vì thức khuya dậy sớm và bán máu. Ngày chị lành bệnh , cũng là ngày anh ngục ngã.

Anh bị ngã xe trên đường về vì hoa mắt. Tai nạn đó không lấy đi sinh mệnh của anh nhưng lấy đi của chị rất nhiều nước mắt khi anh trở thành một đứa trẻ lên ba. Anh không biết gì cả, thích cười thích khóc, không hiểu mình đang nghĩ gì. Nghe tin anh bệnh như thế , cả nhà chị tìm mọi cách tác động tới chị để chị bỏ anh mà về sống với gia đình. Không nhẫn tâm bỏ anh lại một mình, chị bị gia đình mình bỏ rơi. Không còn cách nào khác, chị đành cùng anh sống trong căn nhà lạnh lẽo. Chị đành bán đi miếng đất sinh nhai của hai vợ chồng để lấy tiền chữa trị cho anh. Chạy hết bệnh viện này tới bệnh viện khác, bệnh anh vẫn không khỏi.

Không còn cách nào khác, chị đành gửi anh vào bệnh viện tâm thần. Một tuần sau, nước mắt chị lại trào ra khi nhìn thấy anh đứng trước nhà gọi chị. Dù anh đang là đứa trẻ lên ba nhưng anh vẫn nhớ đường về nhà tìm chị.

Chị rụng rời chân tay ôm anh khóc không thôi.

Chị thề với lòng sẽ không đưa anh đi đâu cả.

Chị siết lấy anh cứ như sợ anh lại biến mất.

Vậy là từ đó, chị đâu anh ở đó. Anh ăn rất khỏe dáng người cao to. Nhìn đằng sau cứ như tràn trề sinh lực, nhưng chỉ khi nói chuyện với anh, mọi người mới vỡ lẽ.

Mỗi ngày sáng sáng anh lại gánh giỏ cá ra chợ cho chị bán, xong rồi lại đi lang thang. Đúng 11h anh lại đến gánh về cho chị. Anh hiền lành, thấy ai làm gì nặng cũng nhào vào giúp nên mọi người ở chợ rất thương. Họ vẫn thường cho anh bánh trái, ai khá hơn thì dúi cho chút tiền. Anh đều bỏ vào bọc, dành cho chị tất.

Mọi người đùa với anh gì anh cũng chỉ cười giả lả. Nhưng ai đó không biết lỡ lời gì tới chị là anh sẵn sàng cho người đó một cú đấm. Có lần, anh nổi cơn đánh một người bán sống bán chết chỉ vì người ấy khen chị xinh. Chỉ đến khi chị đến ôm anh, anh mới thôi.

Ở cái chợ này, chả ai dám tranh chỗ bán với chị cả, vì mỗi lần có cãi nhau với chị hay là giành khách, anh cũng đều có mặt, đứng che chị lại, tay lăm lăm thanh gỗ sẵn sàng ăn thua với họ.

Ai cũng ngán ngại, họ bảo chấp chi thằng điên nên họ bỏ qua điều đó.

Rồi ba chị sinh tật uống rượu. Ngày càng nghiện, ông mất. Được tin chị khóc ngất, thấy chị khóc, anh cũng ôm chị vào lòng và khóc theo. Khóc xong, chị dẫn anh ra tiệm vàng bán sợi dây chuyền mà anh tặng khi quen cưới nhau. Thấy chị tháo sợi dây, anh giật lại. Anh biết chị rất thích nó nên không muốn cho chị bán. Chị cười buồn, bán để cho má làm đám ma ba, sau này anh đi làm mua cho em cái khác lớn hơn, đẹp hơn. Anh mới chịu buông tay cười cười theo chị. Từ đó, anh chỉ đem cái bánh, chai nước về cho chị chứ không hề thấy đưa chị tiền.

Không biết tại vì không uống thuốc hay lý do gì mà dạo này anh lại có thêm bệnh động kinh. Mỗi lần lên cơn co giật lại sùi bọt mép. Hết cơn anh lại đập phá những ai đứng gần đó, nhưng khi chị ôm anh vào lòng, anh đều trở lại bình thường. Người ta khuyên chị cho anh vào viện. Bác sĩ bảo anh đã chuyển sang tâm thần nặng, phải đưa vào khu cách ly. Chị đành nói dẫn anh đi chơi. Đưa vào đó anh cứ khóc, ôm chầm lấy chị, chị cũng ôm chặt anh, mãi chị mới buông anh ra được. Nước mắt chảy dòng, chị phải cố chạy thật nhanh để không nghe tiếng anh gọi.

Tháng nào chị cũng xuống thăm anh. Chẳng làm gì cả cứ nhìn anh , khóc đã đời rồi về. Anh cũng vậy gặp chị là đòi về. Nhiều lúc chị cũng muốn đưa anh về lắm nhưng không thể.

Rồi một ngày, bệnh viện thông báo anh đã mất vì trong một lần lên cơn anh đã đập đầu vào tường.

Họ bảo trước lúc mất anh luôn miệng gọi tên chị. Chị ngất lên ngất xuống .

Hôm làm thủ tục chôn cất anh. Chị được bệnh viện đưa túi đồ của anh, bên trong toàn là hình của chị. Dưới những bộ đồ có một cái hộp, trong đó có một sợi dây chuyền bạc cùng tờ giấy anh ghi nguệch ngoạc tên chị.

Nước mắt chị chảy ròng…, nhớ người chồng điên!

Fb Lão Ngoan Đồng


 

VỀ MỘT VỊ CHÂN PHƯỚC Ở MIỀN TÂY – nhà báo Nguyễn Hồng Lam

Thao Teresa

 Bài viết của nhà báo Nguyễn Hồng Lam, không cùng tôn giáo.

VỀ MỘT VỊ CHÂN PHƯỚC Ở MIỀN TÂY

Tháng 7/1993, tốt nghiệp Đại học, tôi vào đời  bằng những chuyến đi qua lại dài ngày xuống miền Tây – vùng đất không quá xa Sài Gòn – TP Hồ Chí Minh nhưng trước đó tôi chưa có điều kiện biết nhiều.

Trên tất cả các chuyến xe đò tôi đi, ở tất cả các tuyến ngang dọc, tôi để ý thấy kính ngay trước mặt tài xế đều dán, treo hoặc gắn ảnh một vị  Linh mục cương nghị, khuôn mặt rất đàn ông với bộ râu chổi sể rất…mãnh liệt.

Đó là lần đầu tiên tôi biết đến Linh mục Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp, vị chủ chiên của giáo xứ – nhà thờ Tắc Sậy, Bạc Liêu đã mất từ gần nửa thế kỷ trước đó.

Điều kỳ lạ là, ngay cả những chủ xe, lái xe không tôn giáo hoặc theo các tôn giáo khác cũng đặt ảnh ông trang trọng trong xe mình. Đôi khi, ảnh Cha Diệp được thành kính đặt chung, ngang hàng với tượng Phật Bà Quan Âm, tượng ông Địa, tranh thánh Con mắt Thiên Quang Cao Đài…

Nói chung, người ta hiểu ngay, trong tín ngưỡng dân gian, di ảnh ông được xem như một tấm bùa hộ mệnh. Nhà xe, không phân biệt đức tin tôn giáo đều treo di ảnh ông như ký thác một niềm tin, mong ước an toàn cho những hành trình.

Nguyễn Lê Tùng, bạn đại học của tôi, đồng thời là chủ xe kiêm tài xế ở Rạch Giá khẳng định: “Linh lắm! Ảnh của Ngài được rước từ nhà thờ Tắc Sậy”.

Tôi tin. Nhìn ánh mắt ông trong ảnh, tôi thấy toát lên vẻ kiên định, cảm nhận được sự bao dung và ấm áp. Ai phúc đức với dân, được nhân dân tôn quý, tôi kính trọng và ngưỡng mộ người đó.

Hơn 30 năm nay, đi qua đi lại cung đường về Cà Mau, hễ thuận tiện là tôi lại ghé đến nhà thờ Tắc Sậy.

Tôi không phải giáo dân, cũng không mong cầu gì cả.

Tôi chỉ đến để chiêm ngưỡng một địa chỉ văn hóa, nơi một nhân cách cao cả từng sống và chết cho đức tin và sứ mệnh của mình; để tìm hiểu nhiều hơn về một con người từng sống và chết trong thanh thản với người dân xứ sở mình ngay giữa thời loạn lạc.

Linh mục Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp sinh năm 1897 tại An Giang, được truyền chức Linh mục năm 1924.

Ông nhận nhiệm sở tại giáo xứ Tắc Sậy (Bạc Liêu) từ tháng 03/1930, là linh mục thứ hai quản lý họ đạo này kể từ khi thiết lập nhà thờ Tắc Sậy vào năm 1925. 

Ông được người dân trong vùng nhớ đến bởi sự giản dị, ân cần, luôn sẵn lòng quan tâm đến người nghèo và khách lỡ đường, người gặp nạn cần cứu giúp, không phân biệt tôn giáo.

Ông tích cực trong việc phát chẩn, cứu đói; dành cả đất nhà thờ làm nghĩa trang an táng cho người nghèo không phải giáo dân.

Người Công giáo mang ơn ông vì những bài giảng giản dị dễ hiểu nhưng hùng hồn, thuyết phục.

Dưới sự phấn đấu và chủ trì của ông, nhà thờ Tắc Sậy đã được chuyển từ trong sâu ra ngoài mặt tiền quốc lộ, ngày một phát triển hơn, giúp đỡ được cho nhiều người hơn.

Cha Diệp đã mở rộng được 6 cộng đoàn Công giáo mới, lên tận xứ Đầu Sấu – Cần Thơ ngày nay.

Giai đoạn 1945 -1946, Nhật – Pháp và các giáo phái đánh nhau liên miên, biến khu vực Bạc Liêu – Cà Mau thành nơi tao loạn.

Nhiều  giáo dân trong khu vực phải tản cư.

Linh mục bề trên Trần Minh Ký ở Bạc Liêu đã viết thư kêu gọi Linh mục Trương Bửu Diệp tạm lánh, chờ  khi khu vực Tắc Sậy, Hộ Phòng ổn định sẽ quay trở lại.

Nhưng ông từ chối: “Tôi sống giữa đàn chiên, chết cũng giữa đàn chiên, tôi không đi đâu hết”. Bởi là mục tử, ông không bỏ rơi con chiên trong hoạn nạn.

Theo tư liệu của Hội đồng Giám mục Việt Nam, ngày 12/03/1946, Linh mục Trương Bửu Diệp bị lính Nhật (đào ngũ) bắt đi cùng với hơn 70 giáo dân tại giáo xứ Tắc Sậy, dự định tập trung thiêu chết họ.

Ôn tồn, nhẫn nại nhưng cương quyết, Cha Diệp đã dùng mọi cách thuyết phục, đấu tranh với lũ bạo quyền để ngăn chặn tội ác thảm sát, cứu dân lành.

Vì thế, ông bị chúng chặt sát hại, ném xác xuống ao. Hung thủ đích thực đã ra tay đến nay vẫn chưa được xác định. 

Nhưng cũng nhờ đó, ngay trong đêm ấy, 70 giáo dân đã được thả về và tản cư an toàn!

Suốt tám thập kỷ sau ngày Linh mục Trương Bửu Diệp thọ nạn, nhiều giáo dân và người ngoài Công giáo đã tin rằng họ đã từng nhận được “phép lạ” từ việc cầu nguyện với ông.

Hình ông được treo trang trọng nhiều nơi như gửi gắm một ước nguyện an lành

Sau 80 năm, Linh mục Trương Bửu Diệp đã được Giáo hội Công giáo phong Chân phước (hay còn gọi là  Á thánh – Beatus) vào ngày 2/7/2026.

Đây là lần đầu tiên một lễ phong Chân phước được tổ chức tại Việt Nam.

Trước đó, vào năm 2012, ông đã được Tòa thánh Vatican tuyên phong Tôi tớ Chúa ( Servus Dei) và sau đó là Đấng Đáng kính (Venerabilis).

Với tuyên vị Chân phước (Beatus trong tiếng La tinh hoặc Beatification trong tiếng Anh), việc tôn kính, sùng kính và cầu nguyện công khai chỉ được phép diễn ra trong phạm vi địa phương, giáo phận, hoặc quốc gia của vị đó.

Cha Diệp được phong Chân Phước vì được Giáo hội công nhận tử vì đạo.

Nếu (và cần) có thêm một phép lạ được Giáo hội công nhận xảy ra sau khi đã được phong Chân phước, ông sẽ được phong Hiển thánh (Sanctus, Canonization).

Khi được tuyên phong bậc cao nhất này, việc tôn kính và mừng kính ngài sẽ trở thành bắt buộc hoặc phổ quát trong toàn thể Giáo hội Công giáo trên toàn thế giới.

Xin chúc mừng Hồng ân Thiên Chúa đã tưới đến Cộng đồng Công giáo Việt Nam.

Đại Hồng ân cũng đã ở rất gần, bởi từ lâu, trong lòng đông đảo người dân miền Tây, Linh mục Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp đã sống trọn trong đức tin gắn với phép lạ.

Chưa được tuyên phong, Cha Diệp cũng đã hóa thánh giữa cộng đồng!

nhà báo Nguyễn Hồng Lam


 

Số lính thương vong trong cuộc chiến Ukraine vượt 2 triệu

Ba’o Nguoi – Viet

July 2, 2026

KIEV, Ukraine (NV) – Hơn 2 triệu binh sĩ Nga và Ukraine tử trận hoặc bị thương trong bốn năm Nga xâm lăng Ukraine, theo kết quả nghiên cứu mới hôm Thứ Tư, 1 Tháng Bảy, New York Times đưa tin.

Cuộc chiến Ukraine có lẽ đã vượt qua trận Stalingrad thời Đệ Nhị Thế Chiến, trận chiến được coi là đẫm máu nhất lịch sử, theo CNN.

Lính Ukraine khiêng quan tài anh Yaroslav Varnak, 23 tuổi, tử trận trong cuộc chiến với Nga, ở Kiev hôm 8 Tháng Sáu. (Hình: Tetiana Dzhafarova/AFP via Getty Images)

Theo kết quả nghiên cứu được Trung Tâm Nghiên Cứu Chiến Lược và Quốc Tế (CSIS) ở Mỹ công bố, Nga bị tổn thất nặng hơn: 1.4 triệu quân thiệt mạng hoặc bị thương kể từ Tháng Hai, 2022, khi ông Vladimir Putin, tổng thống Nga, xua quân qua xâm lăng Ukraine.

Trong số đó, 450,000 tử trận, nhiều gấp bốn lần số lính Mỹ thiệt mạng trong tất cả cuộc chiến từ Đệ Nhị Thế Chiến cộng lại.

Ukraine có 525,000 tới 625,000 lính tử trận hoặc bị thương, trong đó, số người thiệt mạng khoảng 125,000 tới 150,000.

Giới chức từng cảnh báo rất khó ước tính số thương vong trong cuộc chiến này vì họ cho rằng Nga thường đếm bớt đi con số thực sự, còn Ukraine không tiết lộ số thương vong chính thức của nước này. Cuộc nghiên cứu của CSIS dựa vào con số mà chính phủ Anh và Mỹ và một số nguồn khác ước tính.

“Những con số này đáng kinh ngạc,” ông Seth G. Jones và ông Riley McCabe, hai người thực hiện cuộc nghiên cứu này, cho hay.

Về thương vong, Nga ngày càng bị tổn thất nhiều hơn Ukraine nhiều, ông Jones và ông McCabe cho biết. Trong sáu tháng đầu năm nay, tỉ số thương vong có lẽ tăng lên gần 8:1, nghĩa là cứ mỗi lính Ukraine thiệt mạng hoặc thương vong thì tám lính Nga bị như vậy, theo hai ông này.

Hầu hết bốn năm chiến tranh, tỉ số đó khoảng hai tới ba lính Nga thiệt mạng hoặc thương vong so với một lính Ukraine bị như vậy. Ông Jones và ông McCabe cho hay tỉ số đó hiện đang tăng lên vì Ukraine đạt tiến bộ trong chương trình “drone” (máy bay điều khiển từ xa), đặc biệt là có thể mở rộng “vùng tiêu diệt” xung quanh tiền tuyến.

Ở Nga, số thương vong trong cuộc chiến này không xảy ra đều khắp nơi: Vùng nghèo hơn và sắc tộc thiểu số có lính thương vong nhiều hơn. Tin tức về những ngôi làng nhỏ, hẻo lánh hầu như không còn đàn ông đang trở nên phổ biến trên báo chí đối lập ở nước này. Và theo cuộc nghiên cứu của CSIS, hiện tại, số quân mà Nga tuyển thêm không theo kịp số thương vong mà nước này đang hứng chịu. (Th.Long)


 

Cho đi, tức là lãnh nhận – Cha Vương 

Chúc bạn những ngày nghỉ dài “July 4th” (Lễ Độc Lập của Hoa Kỳ) thật hạnh phúc bên bạn bè và gia đình. Đừng quên cầu nguyện nhau và cho những người đã hy sinh cho nền độc lập, tự do, và hoà bình trên đất nước Hoa Kỳ nói riêng và thế giới nói chung nhé.

Cha Vương 

Th 5: 02/07/2026.     (CN-23)

TIN MỪNG: Và ai cho một trong những kẻ bé nhỏ này uống, dù chỉ một chén nước lã thôi, vì kẻ ấy là môn đệ của Thầy, thì Thầy bảo thật anh em, người đó sẽ không mất phần thưởng đâu. (Mt 10:42)

SUY NIỆM: Trong cuộc sống ngày nay bạn thấy có những điều rất là nghịch lý nhưng lại rất là đúng. Thí dụ: Sinh con cho người giúp việc—rõ là con của mình nhưng nó lại gần gũi với người giúp việc hơn; thế giới ảo “thật” hơn thế giới thực; tất cả mọi thứ đều tăng giá, chỉ có con người là ngày càng mất giá. Trong bài Tin Mừng hôm nay Chúa Giê-su cũng vạch ra cho bạn những nghịch lý để giúp bạn sống trưởng thành hơn trong ơn gọi người Ki-tô hữu của mình: 

(1) Cho đi, tức là lãnh nhận—bạn muốn được yêu thương ư? Vậy hãy tập cho đi những gì là thương mến đi.

(2) Ai tìm thì sẽ mất; ai chịu mất thì sẽ tìm lại được—bạn đang kiếp tìm gì vậy? Sự ích kỷ (tức là chỉ tìm chính bản thân mình, đặt mình làm chuẩn mực cho người khác phải theo) thì sẽ làm cho con người lâm vào tình trạng vong thân, đánh mất chính mình. Nếu bạn sẵn sàng dấn thân cho đi trong yêu thương, vui vẻ phục vụ thì bạn sẽ tìm được chính bản thân mình. 

(3) Ai giúp người khác thì bản thân mình sẽ được giúp đỡ—bạn muốn được giúp đỡ ư? Bạn hãy làm một điều rất đơn giản được nêu ra trong Tin Mừng hôm nay đi. Dù chỉ là một bát nước lã thôi ấy vậy mà món quà tưởng chừng như vô giá trị ấy lại có ý nghĩa trước mặt Chúa và xứng đáng nhận phần thưởng. “Của cho không quan trọng bằng cách cho”, một bát nước lã đã trở thành quà tặng có giá trị, vì nó được trao tặng với cả tâm hồn, với tình mến yêu và lòng chân thành. Ước mong bạn hãy áp dụng những điều nghịch lý trên vào cuộc sống hàng ngày để minh chứng cho Tin Mừng của Chúa.

LẮNG NGHE: CHÚA Giê-su cầu nguyện rằng: “Lạy Cha, con cầu xin cho họ xin cho họ nên một trong chúng ta, để thế gian tin rằng Cha đã sai con.”  (Ga 17:21-22)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, xin giúp con biết yêu thương mọi người bằng một tình yêu không so đo tính toán, không ích kỷ nhỏ nhen để mọi người nhận biết con là môn đệ của Chúa.

THỰC HÀNH: Tập sống chân thành với chính mình hơn. Đừng sống “ảo” nhé.

From: Do Dzung

*************************

Cho Đi Là Lãnh Nhận – Sáng tác: Duy Nhạc – Angelo Band

Về già chỉ nên trông cậy vào tiền bạc

Lê Đình Hùng

Mai Ton T TuyetNHỮNG BÀI POST HAY.

«Về già chỉ nên trông cậy vào tiền bạc»: Kết luận chuẩn xác của một người đàn ông lớn tuổi.

(Trích dẫn của K.A.A – Về Hạnh phúc – Thật đơn giản)

****

«Tiền bạc còn tốt hơn con cháu và thứ tình yêu giả tạo của chúng».

Gửi các đồng niên và tất cả những ai vẫn còn đang nghĩ rằng tuổi già là câu chuyện về sự an nhàn và vui vầy bên con cháu.

Tôi không phải nhà tâm lý học, tôi chỉ là một người đàn ông bình thường. Tôi đã sống 65 năm trên đời, trong đó 5 năm cuối là những năm tháng hạnh phúc, bất chấp mọi bệnh tật.

Tôi muốn nói ra những điều người ta thường không dám nói thành tiếng, để tránh làm vỡ mộng những kỳ vọng của người khác.

Tại sao tôi lại hạnh phúc? Chính vì tôi đã nhận ra một điều đơn giản.

Đến năm 60 tuổi, tôi hiểu ra điều cốt lõi: Trở thành nhà vô địch ở độ tuổi này không có nghĩa là chạy nhanh hơn tất cả mọi người.

Nó có nghĩa là biết cách sống sót dưới áp lực, khi cơ thể đau nhức, còn tâm lý thì lung lay vì huyết áp, tiểu đường và đủ thứ bệnh tật. Và đó chính xác là thực tế tuổi già của tôi.

Mà tuổi già, các bạn ạ, có một đặc tính rất khốn nạn — nó luôn giáng những đòn chí mạng vào những niềm hy vọng.

Tôi từng hy vọng các con mình sẽ sống ở gần. Nhưng con trai tôi đã chuyển đến Moscow, lấy vợ thành phố, và cô con dâu thì bảo thẳng là “thấy ngại” khi phải về vùng quê hẻo lánh của chúng tôi.

Con gái tôi thì ở Serbia, chồng nó là một cậu trai tốt. Nhưng quá xa xôi. Cậu con trai út sống cách tôi không xa, có ba đứa con trai — tức là ba đứa cháu nội của tôi. Cứ ngỡ thế là: «Đến đây với ông nào».

Lúc nhỏ thì đúng là như thế. Nhưng cứ hễ chúng lên 13 tuổi một cái là hết. Ông chẳng còn cần thiết nữa. Chúng chỉ nhớ đến ông khi cần tiền.

Quan sát những người ở độ tuổi trên 55, tôi đã rút ra vài kết luận cay đắng.

Bắt đầu từ nỗi thất vọng lớn nhất — Con cái.

Chúng ta sinh chúng ra, đầu tư tất cả vào chúng, rồi ngồi chờ chúng sẽ trở thành chỗ dựa cho mình. Sẽ không có chuyện đó đâu. Con cái không cứu nổi bạn khỏi sự cô đơn.

Thực ra, chúng chẳng cứu bạn khỏi bất cứ điều gì cả. Nếu chúng ở ngay cạnh bạn — điều đó có nghĩa là bạn đang cướp đi cuộc sống của chúng và bào mòn tài nguyên của chúng.

Tôi đã chứng kiến những người phụ nữ quen biết già đi nhanh chóng vì phải chăm sóc mẹ già, khi các bà mẹ hút cạn những năm tháng thanh xuân của con gái mình.

*Đàn ông không có quyền làm như vậy.

Phụ nữ có lẽ có thể — họ có những vai trò khác. Nhưng tôi nói với tư cách là một người đàn ông: Con cái hoàn toàn tự do và không nợ nần gì bạn cả.

Chúng có cuộc sống riêng. Chúng là niềm vui, là lý do để bạn mỉm cười, nhưng không phải là cái nạng của bạn khi về già, cũng không phải là tấm bảo hiểm cho một cái kết đột ngột.

Tự nhiên đã an bài rằng đàn ông là “vật liệu tiêu hao” và các ông già thì phải ra đi trước các bà già.

Sự quan tâm của con cái chỉ là một phần thưởng thêm (bonus), không hơn không kém. Đòi hỏi chúng phải quan tâm liên tục là sự ích kỷ thuần túy của tuổi già, thứ biến bạn thành một đứa trẻ hay hờn dỗi. Đừng tự cho phép mình trở nên như vậy.

Bây giờ là về những thứ thực sự có thể dựa dẫm: Sức khỏe và Tiền bạc.

Đó mới là nguồn vốn chính.

Không phải con cái, không phải các mối quan hệ, cũng không phải công lao trong quá khứ. Chỉ có những gì bạn có thể sờ thấy và tiêu được mà thôi. Những điều giản đơn đã trở thành cứu cánh của tôi. Không vội vã — đó là luật.

Hãy chấp nhận tuổi tác, tự giới hạn bản thân, và đừng chen chân vào những nơi dành cho giới trẻ.

Lương hưu không phải là cuộc sống, đó là sự sinh tồn.

Trông cậy vào nhà nước là tự hạ thấp lòng tự trọng của mình. Tuổi già của bạn là trách nhiệm của chính bạn. Lương hưu chỉ là khoản bố thí từ nhà nước. Họ cũng muốn bỏ mặc bạn lắm chứ, nhưng vì bạn là cử tri, nên họ phải giữ cho bạn không bị chết đói.

Vì vậy, chỉ nên tính toán dựa trên số tiền tiết kiệm của chính mình — dù ít ỏi, nhưng phải là của cá nhân bạn. Chúng mang lại sự tự tin. Chúng cho bạn quyền tự do xoay xở.

Những kết luận cuối cùng mà tôi đã ghi lại trong nhật ký:

*Thứ nhất: Tiền bạc đáng tin hơn con cái. Nghe có vẻ phũ phàng? Đúng vậy. Nhưng đó là thực tế.

  Tiền của bạn là tiền của bạn. Tiền của con cái là tiền của chúng. Nếu con cái tự nguyện giúp đỡ — hãy hạn chế sự nhiệt tình đó của chúng. Đàn ông là người tạo ra nguồn lực, chứ không phải đi tước đoạt.

*Thứ hai: Sức khỏe là mối quan tâm hàng đầu của bạn. Suốt cả cuộc đời. Nhưng từ năm 60 tuổi, nó là một chế độ đặc biệt.

Nếu không đủ sức để đứng dậy và ép bản thân làm điều gì đó — tất cả những thứ khác đều mất đi ý nghĩa. Tuyệt đối mọi thứ.

*Thứ ba: Đừng mong đợi bất cứ điều gì từ bất kỳ ai. Cuộc sống của bạn — ngày vui của bạn. Tự mình tổ chức — tự mình ăn mừng. Họ không đến — thì thôi, chẳng sao cả.

*Thứ tư: Tuổi già có cái lợi của nó. Ốm yếu có cái lợi. Yếu đuối có cái lợi. Nhưng tất cả những điều đó đều là sự ích kỷ. Một thứ lợi ích sai lầm. Tuổi già là dành cho những người mạnh mẽ. Những kẻ yếu đuối sẽ bị chìm nghỉm trong đó.

*Thứ năm: Thời trẻ chúng ta sống vì tương lai. Sau tuổi 60, phải sống cho hiện tại. Không có tương lai nào cả. Cuộc đời là hữu hạn. Ở tuổi 60 của chúng ta, cha mẹ hầu như đều đã ra đi. Và chính họ đã tặng cho chúng ta sự thấu hiểu về cái kết của đời người. Vì vậy, phải sống cho kịp. Không phải để tích lũy — mà là để sống cho kịp.

Tuổi già là kỳ thi bài bản về sự trưởng thành.

Đó là một giải đấu vô địch. Đó là một trò chơi roulette. Con đường này bạn sẽ phải đi một mình — ốm đau, yếu ớt, bất lực, già nua, lú lẫn. Kỳ thi này sẽ không có ai thi hộ bạn cả. Con cái yêu thương bạn ư?

Tuyệt vời. Sự giúp đỡ của chúng là phần thưởng thêm, không phải là nền tảng vững chắc.

Lựa chọn rất đơn giản — sự cam chịu (thuận theo tự nhiên).

Cam chịu không phải là yếu đuối. Đó là lòng dũng cảm để chấp nhận sự thật. Hoặc là bạn chấp nhận tuổi già và tự xây dựng kịch bản cá nhân theo luật chơi của nó.

Hoặc là bạn ngồi chờ một phép màu không bao giờ đến. Bởi vì cái kết sẽ đến. Không một lời cảnh báo. Nhưng nếu bạn đã chấp nhận điều đó — bạn đã là người chiến thắng rồi.

Tôi đã học được cách tự ăn mừng một mình.

Như vậy đối với tôi dễ dàng hơn.

Vợ tôi mất cách đây 6 năm vì bạo bệnh. Tôi không muốn có thêm bất kỳ ai ở bên cạnh mình nữa.

(LĐH* st & dịch) 


 

KHÔNG BIẾT ĐI MÔ – Lm. Minh Anh,Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Tôma, cũng gọi là Điđymô, không ở với các ông khi Đức Giêsu đến!”.

“Không có cộng đoàn thì khó tìm được Chúa Giêsu!” – Phanxicô.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay kể chuyện Tôma vắng nhà. Tám ngày sau, ông trở lại và “Điđymô” mới nhận ra: ngoài Đức Kitô và cộng đoàn của Ngài, ông thật sự… ‘không biết đi mô’.

Mở đầu trình thuật, Gioan ghi rất đơn sơ: Tôma “không ở với các ông”. Bản Hy Lạp viết meth’ autōn – “ở với các ông”. Chỉ thiếu việc “ở với” ấy, Tôma lỡ mất cuộc gặp đầu tiên với Đấng Phục Sinh. Tôma không mất Chúa vì nghi ngờ; ông lỡ cuộc gặp đầu tiên vì không “ở với”. Vấn đề của ông không chỉ là thiếu bằng chứng, nhưng là thiếu hiệp thông. Đức tin không bắt đầu bằng việc đủ lý lẽ, nhưng bằng việc ở lại với những người chờ Chúa.

Tám ngày sau, Chúa Giêsu lại đến. Lần này, Tôma “ở với các ông”. Đối với Tôma, con đường gặp Đức Kitô đi ngang qua cộng đoàn. Và đó là cách Đức Kitô muốn mạc khải: Hội Thánh luôn là nơi Ngài quy tụ, hiện diện và ban bình an. Vì thế, cộng đoàn không chỉ là nơi các tín hữu gặp nhau, nhưng là nơi Thiên Chúa tiếp tục tỏ mình cho họ. Ai tự tách mình khỏi cộng đoàn, sớm muộn cũng đánh mất nơi mình vẫn có thể gặp Đấng Phục Sinh. “Cộng đoàn là nơi những vết thương được chạm đến và đức tin được phục hồi. Không ở đó, Tôma đã không thể chạm vào những dấu đinh!” – James Martin.

Đó cũng là điều Phaolô nhắc các tín hữu Êphêsô: “Anh em là người nhà của Thiên Chúa!” – bài đọc một. Hội Thánh không chỉ là một tổ chức, nhưng là gia đình được Đức Kitô quy tụ và xây dựng. Vì thế, rời cộng đoàn không chỉ là xa một nơi chốn, nhưng là xa mái nhà thiêng liêng, nơi đức tin được nuôi dưỡng và lớn lên. Không ai có thể làm môn đệ một mình; cũng không ai có thể sống đức tin mà không cần đến anh chị em mình. Chính từ cộng đoàn ấy, người môn đệ mới có thể lên đường “đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng” như Đáp ca mời gọi.

Như Tôma, có những lúc chúng ta không hẳn mất đức tin, nhưng âm thầm rời xa cộng đoàn vì những lý do khác nhau. Chúng ta nghĩ mình vẫn có thể tin một mình. Vậy mà chỉ khi lòng trở nên trống vắng và lạc hướng, chúng ta mới nhận ra: xa Đức Kitô, xa Hội Thánh của Ngài, xa cộng đoàn…, mình thật sự ‘không biết đi mô’.

Anh Chị em,

Đức Kitô Phục Sinh không chỉ quy tụ Hội Thánh; chính Ngài là nguồn mạch hiệp thông của Hội Thánh. Trong Ngài, Hội Thánh được dự phần vào sự sống Ngài hằng sống với Chúa Cha trong Chúa Thánh Thần. Vì thế, Hội Thánh không chỉ là nơi con người gặp nhau, nhưng là nơi họ được thông dự vào sự sống Ba Ngôi. Ở lại trong Đức Kitô, hiệp thông không còn là nỗ lực giữ nhau, nhưng là sự sống được nhận lãnh và thông ban; để rồi cộng đoàn được sai đi lan toả sự sống ấy. Điều này chỉ xảy ra khi chúng ta ở lại trong Hội Thánh, chứ không đứng ngoài cộng đoàn.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, đôi lúc giữa cộng đoàn, con vẫn lạc, xin kéo con về; đôi lúc con muốn bỏ đi, ‘không biết đi mô’, xin níu con lại; ở lại mà lòng vẫn đi, xin đưa con vào hiệp thông!”, Amen.

Lm. Minh Anh,Tgp. Huế

***********************

Lời Chúa Kính Thánh Tôma Tông đồ 03/7 Thứ Sáu, Tuần XIII Thường Niên

Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con !

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.   Ga 20,24-29

24 Có một người trong Nhóm Mười Hai, tên là Tô-ma, cũng gọi là Đi-đy-mô, không ở với các ông khi Đức Giê-su đến. 25 Các môn đệ khác nói với ông : “Chúng tôi đã được thấy Chúa !” Ông Tô-ma đáp : “Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Người, nếu tôi không xỏ ngón tay vào lỗ đinh và không đặt bàn tay vào cạnh sườn Người, tôi chẳng có tin.” 26 Tám ngày sau, các môn đệ Đức Giê-su lại có mặt trong nhà, có cả ông Tô-ma ở đó với các ông. Các cửa đều đóng kín. Đức Giê-su đến, đứng giữa các ông và nói : “Bình an cho anh em.” 27 Rồi Người bảo ông Tô-ma : “Đặt ngón tay vào đây, và hãy nhìn xem tay Thầy. Đưa tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy. Đừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin.” 28 Ông Tô-ma thưa Người : “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con !” 29 Đức Giê-su bảo : “Vì đã thấy Thầy, nên anh tin. Phúc thay những người không thấy mà tin !”


 

Ở HIỀN GẶP LÀNH – Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền

 Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền

Cha ông ta vẫn thường dạy con cái: “Ở hiền gặp lành.”  Người ăn ở hiền lành, người sống có nhân, có nghĩa ắt trời sẽ ban cho nhiều phúc lộc dư tràn.  Ngược lại, nếu sống ác nhân ác đức, trời sẽ quả báo những tai họa khó lường.

Thế nhưng, hiền lành có phải là “tĩnh tọa như Bụt?”  Ai muốn làm gì thì làm hay không?  Thưa không, mà hiền lành ở đây là biết sống đúng với vị trí của mình.  Là biết sống đúng với phẩm giá của mình.  Là biết tôn trọng phẩm giá của mình.  Một con người có phẩm giá cao đẹp là một con người có lý trí đủ để suy biết điều hay lẽ phải, có ý chí vững mạnh để không bị sự gian ác làm hại bản thân và tha nhân, có sự chọn lựa đúng đắn và chuẩn mực về cái hay, cái đẹp, cái phải, cái trái.  Là người phải biết phân biệt phải quấy.  Biết nói không với điều ác.  Không thỏa hiệp với gian tà.  Vì “im lặng là đồng lõa” và hùa theo là “đồng phạm.”  Người không có trí khôn, làm theo lời người khác thì không có tội, nhưng người hiền lành không thể làm chuyện ác, chuyện lừa dối để rồi đổ lỗi cho hoàn cảnh.  Nếu đổ lỗi cho hoàn cảnh thì trên đời này ai phạm tội cũng vì hoàn cảnh mà ra.  “Túng quá hóa liều,” “Nóng mất khôn,” “Tức nước vỡ bờ.”  Trong một phân tích về lý do phạm tội của các tù nhân thì có 80% tội nhân cho rằng mình phạm tội là do hoàn cảnh.  Như vậy, sự hiền lành là một thái độ sống dung hoà với mọi người.  Sự hiền lành sẽ giúp cho con người hành xử theo tình, theo lý và theo lẽ phải nhưng với một thái độ ôn hòa với đầy lòng bác ái bao dung.

 Hôm nay Chúa nói: “hãy học cùng Ta, vì Ta hiền lành và khiêm nhường trong lòng.”  Sự hiền lành của Chúa không phải là đi tìm sự thỏa hiệp với thế gian.  Chúa không im lặng trước sự dữ.  Chúa đã từng lên án gắt gao thói giả hình và gian tà của những kẻ biệt phái.  Chúa đã từng xua đuổi con buôn ra khỏi đền thờ.  Chính vì những điều Chúa làm, những lời Chúa nói đã ảnh hưởng đến miếng cơm manh áo, đến địa vị, chỗ đứng của các người biệt phái mà người ta tìm cách giết Chúa.  Sự hiền lành của Chúa là vì công lý mà chịu nhiều thiệt thòi không kháng cự.  Vì dám nói sự thật mà phải chết nhục nhã trên cây thập giá, nhưng Ngài không oán hận, và còn xin cùng Chúa Cha tha cho họ vì họ không biết việc họ làm.  Chúa đấu tranh nhưng bất bạo động, vì “ai dùng gươm sẽ chết vì gươm,” “oán báo oán, oán chập chùng” và còn tha thứ cho sự xúc phạm của tha nhân không chỉ “7 lần mà là 70 lần bảy.”

 Trong tám mối phúc, Chúa đã chúc phúc những cho ai bị bách hại vì lẽ công chính, vì Nước Trời là của họ.  Như thế hiền lành ở đây là sống thật và làm chứng cho sự thật.  Không nhượng bộ, không thỏa hiệp với dối gian.  Cho dù vì lẽ công chính mà mình bị bách hại, bị thiệt thòi vẫn chấp nhận, vì phần thưởng của chúng ta là Nước trời.

 Sự hiền lành của Chúa còn hệ tại ở sự cảm thông với lỗi lầm của người khác.  Không thành kiến đối với những người bị xã hội ruồng bỏ.  Ngài yêu thương họ.  Ngài đến để đối thoại với họ.  Ngài mở cho họ một con đường mới.  Ngài giúp họ làm lại cuộc đời như Madalena, như Giakêu, hay như người thiếu phụ bên bờ giếng Giacóp.

 Sự hiền lành thường đi song song với khiêm tốn.  Hiền lành để tha nhân dễ gần chúng ta và khiêm tốn để ta dễ hòa đồng với tha nhân.  Tuy hai nhưng là một mục đích.  Tạo cơ hội cho chúng ta đến với tha nhân và tha nhân đến với ta.  Kẻ kiêu căng thường phân loại để chơi.  Người khiêm nhường thì đối xử mọi người như nhau.  Người hiền lành ai cũng muốn tới gần.  Kẻ gian ác ai cũng chạy xa.  Chúa Giêsu hiền lành và khiêm nhường nên ai cũng có thể tiếp xúc với Ngài, và Ngài cũng có thể gặp gỡ trao đổi với mọi người.  Từ em bé đến người già.  Từ người giầu có đến kẻ hèn.  Từ người công chính đến tội lỗi.

 Xin Chúa giúp chúng ta biết học nơi trái tim yêu thương của Chúa: “sự hiền lành và khiêm nhường trong lòng.”  Ngài không ở trên cao nhưng tự hạ mặc lấy thân phận con người.  Ngài còn dạy chúng ta bài học khiêm tốn khi quỳ gối rửa chân cho các môn đệ.  Một cử chỉ khiêm tốn đến nỗi Phêrô đã bộc trực thốt lên: “Không đời nào Thầy lại rửa chân cho con sao?”  Đó là một sự tự hạ không ủy mị hay luồn cúi mà là bài giáo huấn sống động về tinh thần hy sinh phục vụ lẫn nhau.  Ngài đã dạy chúng ta hãy sống đúng với thân phận con người là lệ thuộc vào Chúa.  Ngài đã dạy chúng ta hãy hạ mình để sống hòa hợp với tha nhân.  Đừng tự cao tự đại để gạt Thiên Chúa ra bên ngoài như Adam – Evà năm xưa chỉ dẫn tới diệt vong.  Đừng tự cao tự đại đến nỗi đè bẹp người khác để mình được tôn vinh.  Đừng khinh bỉ người tội lỗi, bất hạnh nhưng yêu thương và tôn trọng họ.  Và trên hết, hãy mang lấy tâm hồn trẻ thơ để luôn đơn sơ và bé nhỏ trước mặt Chúa, trước mặt tha nhân.  Vì sự đơn sơ và bé nhỏ là dấu chỉ đặc thù của sự hiền lành và khiêm nhường trong lòng.  Đây cũng là phương thế để chúng ta đón nhận mạc khải Nước Trời và đón nhận tình thương của Chúa tuôn đổ xuống trên cuộc đời chúng ta.  Amen.

 Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền

From: Langthangchieutim


 

Mỹ và Mình

Mỹ và Mình

Ở Mỹ được hơn 30 năm tôi thấy một số khác biệt giữa người Mỹ và người Việt mình (chỉ nói về phần đông chứ không phải là tất cả đâu nhen). Tôi nghĩ còn rất nhiều khác biệt nữa mời các bạn góp ý thêm nha.

  1. Mỹ làm việc thiện vì lòng hảo tâm. Mình làm việc thiện để “mua phước” cho bản thân và gia đình.
  2. Mỹ làm sếp không lên mặt. Mình làm lớn là làm lối.
  3. Sếp Mỹ không cần kêu họ bằng chức vị. Sếp Mình sẽ tức giận nếu không được thưa gởi kính trọng.
  4. Ngày lễ Giáng sinh sếp Mỹ mua quà nhỏ tặng công nhân cảm ơn. Còn Mình thì mua quà lớn tặng Sếp để lấy lòng.
  5. Mỹ tổ chức đám cưới không tính toán lời lỗ. Mình thì trời mưa vào ngày tiệc cưới là méo mặt vì ít người đi dự sẽ lỗ nặng.
  6. Mỹ tổ chức sinh nhật cho con chỉ có con và bạn bè của con. Mình tổ chức sinh nhật cho con mà khách mời toàn là bạn bè của cha mẹ.
  7. Mỹ đi đúng giờ. Mình chuyên xài giờ cao su.
  8. Mỹ bảo vệ động vật hoang dã. Mình mà gặp là bắt về làm thịt ngay.
  9. Mỹ dạy con vừa học vừa làm. Mình cưng con bắt chỉ chuyên tâm vào học.
  10. Mỹ cho con tự do tranh luận với cha mẹ. Mình bắt con phải tuân lời, con cãi cha mẹ trăm đường con hư.
  11. Mỹ dám hỏi dám nói. Mình không dám hỏi mà dám nói lén, nói xấu sau lưng.
  12. Mỹ cầm dao cắt từ ngoài vào trong. Mình cắt từ trong ra ngoài.
  13. Mỹ dùng máy rửa chén để rửa chén dĩa. Mình dùng máy rửa chén để úp chén dĩa cho ráo sau khi rửa bằng tay.
  14. Mỹ biết bơi nhưng không dạy nếu không được đào tạo để huấn luyện. Mình thì chỉ cần biết bơi sơ sơ là làm thầy dạy lại cho người khác.
  15. Mỹ không xoa đầu hay nựng nịu con nít. Mình thì ngược lại.
  16. Mỹ tiêu tiền phung phí nên phải bỏ tiền thuê người quản lý tiền bạc và tiêu pha. Mình thì biết tiết kiệm nên chẳng cần phí tiền thuê người lo việc vô duyên này.
  17. Mỹ để y tá lo cho thân nhân khi nhập viện. Mình thì vào ở chung với thân nhân để tự tay săn sóc.
  18. Nhà thương Mỹ rất tôn trọng và yêu thương bệnh nhân bất kể giàu nghèo. Nhà thương Mình thì coi bệnh nhân nghèo như con …ghẻ và thương túi tiền của bệnh nhân giàu.
  19. Đến nhà thương Mỹ mà lơ ngơ là có người hỏi han và nhiệt tình giúp đỡ dẫn đường tới tận nơi. Còn đến nhà thương Mình mà lơ ngơ là có cả đám “cò” tới bắt mánh làm tiền.
  20. Về già Mỹ dắt chó đi dạo. Mình thì về già dắt cháu đi dạo. (Đúng với tui ghê)
  21. Người Mỹ rất thích nhìn vào mắt của người đối thoại. Người Việt thì quan niệm nhìn thẳng vào mắt người đối thoại là thất kính hoặc không lịch sự.
  22. Người Mỹ mà bấm còi xe là mắng xe khác đi ẩu không đúng luật. Còn người Mình bấm còi xe là xin đường.
  23. Người Mỹ lái xe tốc độ nhanh thì chạy lane trái. Thấy có người chạy sau nhanh hơn thì tự sang qua lane phải để nhường đường. Người Mình thì hay lạng lách tranh đường.
  24. Người Mỹ chạy xe hơi thấy xe 2 bánh hoặc người đi bộ là lách tránh xa. Người Mình thì mặc bây bây lo tránh, lỡ va quẹt gây tai nạn thì cán chết luôn.
  25. Mỹ già nhiều tiền là cho từ thiện, VN mình già nhiều tiền cho con cháu.
  26. Mỹ thấy ai bị tai nạn ngoài đường thì nhào vô giúp, VN mình thấy ai bị nạn phần nhiều tránh xa để khỏi bị đổ thừa…….
  27. Mỹ bỏ rác vô túi quần đem về, mình thì cứ bỏ ngay tại chổ.
  28. Mỹ lái xe có trật tự, mình mua hết Orange County California nên mình muốn lái xe sao cũng được (ở OrangeCounty).
  29. Mỹ đi đám cưới là để chung vui, quà tặng tượng trưng. Mình đi đám cưới là phải tính toán sao cho coi được, nhất là bố mẹ đã đi đám con  mình, nay vừa mừng vừa trả nợ

32.Mỹ trong những ngày nghỉ ngoài đường vắng hơn, mình thì ngược lại !

33.Mỹ không hỏi tuổi hỏi lương. Mình thì hỏi tuổi để dễ xưng hô và sau đó hỏi lương bao nhiêu. Thiệt ngại quá xá.

  1. Ở Mỹ người dân nói xấu, chưởi Tổng thống không sao. Ở VN nói xấu, bắt chước lãnh đạo là đi ủ tờ.
  2. Mỹ không hỏi những câu hỏi personal question. VN mình hỏi tới bến luôn. Hu hu
  3. Mỹ chơi súng, Việt chơi dao!

37.Quân đội Mỹ chỉ chào nhau khi còn trong giờ làm việc, VN thấy sếp ở đâu cũng phải đứng dậy chào

  1. Mỹ: Cha mẹ tới thăm con cái thi ra hotel ngủ.. 

Việt: Cha Mẹ ở với Con Cái.

  1. Mỹ:  Tiền Vợ, vợ xài… Tiền Chồng, Chồng xài

Việt:  Tiền Vợ là của Vợ, Tiền Chồng cũng là tiền của Vợ

Jonathan Vu Nguyễn


 

Chuyện của Thanh – Chuyện của Descartes

Ba’o Dan Chim Viet

Tác Giả: Hoàng Quốc Dũng

24/06/2026

Yêu bác lòng ta trong sáng hơn?(Francais dans commentaire)

Gần đây tôi lại rất quan tâm đến hiện tượng cuồng tín và sự xơ cứng trong tư duy của con người, đặc biệt là của người Việt chúng ta. Vì vậy hôm nay tôi mạo muội nói đến một khía cạnh trong tư tưởng của Descartes mà theo tôi vẫn còn nguyên giá trị cho đến ngày nay.

Mong các bạn đọc và suy ngẫm. Tin hay không tin là quyền của mỗi người. Nhưng cũng nên nhớ rằng René Descartes không chỉ là cha đẻ của triết học hiện đại. Ông còn là nhà toán học thiên tài, người để lại cho chúng ta hệ tọa độ Descartes, hình học giải tích mà học sinh khắp thế giới vẫn phải học đến ngày nay. Khi ông bắt đầu dạy nhân loại cách hoài nghi và tự tư duy, thì Marx và Lenin còn ở rất xa trong tương lai. Thành thử, xét theo gia phả tư tưởng, họ cũng chỉ là những hậu duệ sinh sau đẻ muộn. Vậy nên đừng vội phán quyết trước khi nghe xem ông già ấy đang nói gì. Ông đã sống cách đây gần bốn thế kỷ, nhưng đôi khi lại hiện đại hơn không ít người đang sống ở thế kỷ XXI.

Thế kỷ XVII là một thời kỳ cách mạng về tư tưởng. Nhưng cuộc cách mạng ấy lại bắt nguồn từ những tiến bộ khoa học. Những khám phá liên tiếp xuất hiện, làm lung lay nhiều chân lý vốn được xem là bất biến từ hàng nghìn năm trước.

Chẳng hạn, từ thời cổ đại, người ta tin theo hệ thống của Ptolemy rằng Trái Đất nằm bất động ở trung tâm vũ trụ và Mặt Trời quay quanh Trái Đất. Nhưng các công trình của Nicolaus Copernicus, Galileo Galilei và Johannes Kepler đã chứng minh điều ngược lại: chính Trái Đất quay quanh Mặt Trời.

Từ thời Aristotle, người ta cũng tin rằng vật nặng rơi nhanh hơn vật nhẹ. Nhưng các thí nghiệm của Galileo cho thấy tốc độ rơi không phụ thuộc vào trọng lượng của vật như người ta từng nghĩ…

Chính vì đã chứng kiến những “chân lý vĩnh cửu” lần lượt sụp đổ như vậy mà René Descartes đi đến một kết luận: không nên chấp nhận một điều là đúng chỉ vì nó được truyền lại từ truyền thống hay được khẳng định bởi kẻ cầm quyền. Mọi khẳng định đều phải được lý trí xem xét và kiểm chứng.

Trước sự đảo lộn ấy, Descartes đặt ra một câu hỏi căn bản: làm thế nào để phân biệt đâu là sự thật, đâu là sai lầm?

Câu trả lời của ông thật táo bạo: hãy bắt đầu bằng sự nghi ngờ.

Descartes quyết định nghi ngờ tất cả: những điều được truyền lại từ truyền thống, những gì các bậc quyền uy khẳng định, những điều sách vở viết ra, thậm chí cả những gì giác quan của chính mình cảm nhận được, bởi giác quan đôi khi cũng đánh lừa con người.

Ông đẩy sự nghi ngờ đi đến tận cùng. Nhưng rồi, giữa biển nghi ngờ ấy, ông phát hiện ra một chân lý không thể phủ nhận. Nếu tôi đang nghi ngờ, tức là tôi đang suy nghĩ. Và nếu tôi đang suy nghĩ, thì chắc chắn tôi đang tồn tại. Từ đó ra đời câu nói nổi tiếng: “Tôi tư duy, vậy tôi tồn tại.”

Câu nói này không chỉ khẳng định sự tồn tại của con người. Nó còn khẳng định rằng tư duy của chính chủ thể là điểm xuất phát đầu tiên của mọi tri thức chắc chắn.

Mặc dù vẫn tin vào Chúa, Descartes đề cao vai trò của lý trí cá nhân trong việc tìm kiếm chân lý. Theo ông, con người không nên chấp nhận một điều là đúng chỉ vì truyền thống hay kẻ cầm quyền khẳng định như vậy.

Bốn thế kỷ đã trôi qua, nhưng bài học ấy vẫn còn nguyên giá trị.

Khi quan sát một số hiện tượng tranh luận chính trị ngày nay ở Việt Nam, người ta có cảm giác rằng rất đông người đang đi theo con đường hoàn toàn ngược lại với Descartes. Một điều được xem là đúng vì nó được phát ra từ một nguồn có thẩm quyền. Sự nghi ngờ bị xem là lệch lạc. Câu hỏi bị xem là nguy hiểm. Tư duy độc lập trở thành điều đáng ngờ.

Nhưng Descartes dạy chúng ta điều ngược lại: nghi ngờ không phải là điểm yếu. Nghi ngờ là khởi đầu của tư duy.

Người biết nghi ngờ có thể sai, nhưng vẫn còn cơ hội tìm ra sự thật. Người không bao giờ nghi ngờ rất dễ biến niềm tin của mình thành giáo điều và nhầm lẫn giữa lòng trung thành với một học thuyết và việc đi tìm chân lý.

Có lẽ bài học lớn nhất mà Descartes để lại cho nhân loại là:

Trước khi tin, hãy suy nghĩ. Trước khi đi theo đám đông, hãy tự mình kiểm chứng.

“Tôi tư duy, vậy tôi tồn tại”, thì đối cực của nó có thể là: “Tôi chỉ lặp lại, nên tôi không còn tư duy.”.

Mà đã không còn tư duy thì chắc vẫn tồn tại. Nhưng tồn tại như con người hay tồn tại như CON BÒ NHAI LẠI thì đó lại là hai chuyện hoàn toàn khác nhau.

Descartes không bảo chúng ta phải tin ông. Ngược lại, ông khuyên chúng ta hãy nghi ngờ, kiểm chứng và tự suy nghĩ.

Đó có lẽ là điểm khác biệt giữa người tư duy và người cuồng tín. Người tư duy có thể thay đổi ý kiến khi đối diện với sự thật. Người cuồng tín thì bắt sự thật phải phục tùng ý kiến của mình.

Những ồn ào gần đây quanh Nỗi buồn chiến tranh hay Chuyện với Thanh cho thấy một nghịch lý thú vị: nhiều người khẳng định mình yêu sự thật, nhưng lại coi những điều được nghe kể là những chân lý hiển nhiên. Vì thế, thay vì tranh luận về các lập luận hay sự kiện được nêu ra, họ lập tức phẫn nộ, lên án và chụp mũ, chửi bới bất cứ ai dám kể một câu chuyện khác đi. Trong khi đó, toàn bộ triết học của Descartes lại bắt đầu bằng một hành động rất đơn giản: dám nghi ngờ.

Vì thế, dù là cuồng cộng sản, cuồng bác, cuồng Putin, cuồng Trump hay cuồng bất kỳ thần tượng nào khác, họ đều có một điểm chung: họ yêu niềm tin của mình hơn sự thật.

Còn Descartes thì đề nghị điều ngược lại: Trước khi tin, hãy suy nghĩ.

Bốn thế kỷ đã trôi qua, nhưng xem ra lời khuyên ấy vẫn còn quá khó đối với không ít người.

Một thời, nhiều người trong chúng tôi đã thuộc lòng những câu thơ của Tố Hữu:

“Yêu bác, lòng ta trong sáng hơn,

Xin nguyện cùng người vươn tới mãi

Vững như muôn ngọn dải Trường Sơn.”

Đó là những câu thơ « đẹp » trong bối cảnh lịch sử của nó. Nhưng nếu hiểu theo nghĩa đen, thì việc yêu một con người đến mức xem người ấy là nguồn gốc của sự trong sáng đạo đức và chân lý lại chính là điều mà Descartes sẽ cảnh báo. Bởi TỪ ẤY, ta không còn tự hỏi mình đúng hay sai nữa, mà chỉ tự hỏi mình đã đủ trung thành hay chưa.

Vậy có thơ rằng:

Yêu bác thì nên suy nghĩ hơn,

Xin nguyện cùng người không ngố mãi,

Có thế đời ta mới tốt hơn.


 

PHÉP LẠ KHÔNG AI THẤY – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

 Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Này con, cứ yên tâm, tội con được tha rồi!”.

“Điều cốt yếu thì mắt không nhìn thấy!” – Saint Exupéry.

Kính thưa Anh Chị em,

Ai cũng bị cuốn hút bởi những phép lạ hiển nhiên. Nhưng trong Tin Mừng hôm nay, phép lạ lớn nhất Chúa Giêsu thực hiện lại vô hình. Tôi gọi đó là ‘phép lạ không ai thấy’.

Người ta đem đến cho Chúa Giêsu một người bại liệt. Ai cũng chờ một phép lạ có thể nhìn thấy. Nhưng Chúa Giêsu lại bắt đầu bằng một lời không ai ngờ tới: “Này con, cứ yên tâm!”. Hy Lạp ghi là teknon – “con”, một tiếng gọi của sự thuộc về. Chúa Giêsu nhìn thấy nơi anh một người con trước khi người đời nhìn thấy một người bại liệt. Vì thế, trước khi nói đến tội lỗi hay bệnh tật, Ngài phục hồi tương quan của anh với Thiên Chúa. Đó là phép lạ đầu tiên của trình thuật, dù chẳng ai nhận ra. “Đời sống thiêng liêng bắt đầu khi chúng ta biết mình là người được Thiên Chúa yêu thương!” – Henri Nouwen.

Sau tiếng gọi ấy là một lời còn gây sửng sốt hơn: “Tội con được tha rồi!”. Không ai thấy tội được tha; cũng không ai kiểm chứng được một linh hồn vừa được giải thoát. Vì thế, các kinh sư cho rằng Ngài nói phạm thượng. Và chính ở điều không thể nhìn thấy ấy, Chúa Giêsu mặc khải quyền tha tội thuộc về Thiên Chúa nơi chính Ngài: “Con Người có quyền tha tội dưới đất”. Thân xác có thể vẫn nằm đó, nhưng bên trong, một sự chữa lành đã bắt đầu!

Các kinh sư không tin Chúa Giêsu có quyền tha tội; cũng thế, tư tế Amátgia không tin Amos được Thiên Chúa sai đến – bài đọc một. Cả hai khước từ một quyền bính không do con người trao ban. Nhưng chính trong sự khước từ ấy, chân lý của Thiên Chúa càng được tỏ lộ. Thánh Vịnh đáp ca xác quyết: “Quyết định Chúa phù hợp chân lý, hết thảy đều công minh!”.

Chúng ta thường chỉ nhận ra phép lạ khi hoàn cảnh đổi thay; nhưng nhiều khi, phép lạ lớn nhất đã xảy ra từ lâu: một trái tim biết sám hối, một lương tâm được bình an, một con người được giao hoà với Chúa. Đó là những phép lạ âm thầm, nhưng lại quyết định vận mệnh đời đời của mỗi người. Theo Đức Bênêđictô XVI, điều hữu hình chỉ là dấu chỉ của điều vô hình. Phép lạ chữa lành không phải là đích đến, nhưng là ngưỡng cửa dẫn con người vào mầu nhiệm tha thứ của Đức Kitô, điều mắt thường không thể nhìn thấy. Vì một khi con người được tha thứ, họ không chỉ đứng dậy, nhưng còn được trả lại hướng đi về Thiên Chúa.

Anh Chị em,

Đức Kitô đến không chỉ để tha tội, nhưng để đưa con người trở về với Chúa Cha như những người con. Trên thập giá, Ngài giao hoà chúng ta với Chúa Cha; trong phục sinh, Ngài mở con đường trở về nhà Cha cho những người con. Vì thế, phép lạ lớn nhất Đức Kitô thực hiện không phải chỉ là chữa lành thân xác, nhưng là phục hồi phẩm vị làm con của mỗi người trước mặt Thiên Chúa. Đó chính là ‘phép lạ không ai thấy’. “Vinh quang của Thiên Chúa là con người được sống!” – Irênê.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin chữa lành những bại liệt vô hình trong con; phục hồi phẩm vị nghĩa tử, để đời con trở thành phép lạ của lòng thương xót Chúa mà ai cũng có thể thấy!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

**************************************

Lời Chúa Thứ Năm, Tuần XIII Thường Niên, Năm Chẵn

Dân chúng tôn vinh Thiên Chúa đã ban cho loài người được quyền năng như thế.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu. Mt 9,1-8

1 Khi ấy, Đức Giê-su xuống thuyền, băng qua hồ, trở về thành của mình. 2 Người ta liền khiêng đến cho Người một kẻ bại liệt nằm trên giường. Thấy họ có lòng tin như vậy, Đức Giê-su bảo người bại liệt : “Này con, cứ yên tâm, tội con được tha rồi !” 3 Có mấy kinh sư nghĩ bụng rằng : “Ông này nói phạm thượng.” 4 Nhưng Đức Giê-su biết ý nghĩ của họ, liền nói : “Sao các ông lại nghĩ xấu trong bụng như vậy ? 5 Trong hai điều : một là bảo : “Tội con được tha rồi”, hai là bảo : “Đứng dậy mà đi”, điều nào dễ hơn ? 6 Vậy, để các ông biết : ở dưới đất này, Con Người có quyền tha tội – bấy giờ Đức Giê-su bảo người bại liệt : “Đứng dậy, vác giường mà đi về nhà !” 7 Người bại liệt đứng dậy, đi về nhà. 8 Thấy vậy, dân chúng sợ hãi và tôn vinh Thiên Chúa đã ban cho loài người được quyền năng như thế.