MỘT DÂN TỘC CÓ QUÁ KHỨ SAI LẦM MÀ VẪN CỨ MÃI MÃI NGU 

Nguyễn Doãn Đôn

MỘT DÂN TỘC CÓ QUÁ KHỨ SAI LẦM MÀ VẪN CỨ MÃI MÃI NGU 

BỞI SỰ BẢO THỦ, HÈN ĐỚN; TỰ HÀO VỚI CHIẾN THẮNG SAI TRÁI CỦA MÌNH ĐỂ ĂN MÀY DĨ VÃNG 

Nếu tôi không phải là Nguyễn Doãn Đôn thì “thằng ba sọc” nào treo ảnh này lên Facebook như thế này là tôi ghét cay, ghét đắng và chửi cho “lên bờ xuống ruộng”, mới chịu thôi!

Nhưng trái lại tôi khen thằng cha này đã có công chụp và đưa tấm hình này lên phơi bày cho Cộng đồng mạng cùng xem. Vì nó lột tả đúng bản chất tối tăm, lạc hậu, quê mùa của cánh lính Bắc chúng tôi ngày xưa (trong đó có tôi)!

Vâng, xin thưa, tôi quê ở Thái Bình-Đặc dân Bắc Kỳ và là một thằng đảng viên CS chính hiệu! Xin thưa, ngày đó phấn đấu vào cái đảng khốn nạn này là cực khó, không đơn giản như bây giờ; có khi thử thách phải đổi cả mạng sống mới có được! Cò không thì 3 năm là Chiến sỹ thi đua chúng nó mới cho vào mon men cái gọi là “cảm tình đảng”…

Mặc dù tôi học giỏi nhưng tốt nghiệp Phổ thông xong, tôi không được vào Đại học (sau này oánh nhau xong tôi phải đi đường vòng chày vảy mới vào ĐH được)  Ngày đó tuổi trẻ chúng tôi đều phải lên đường vào Nam xâm lược. Sư đoàn 320 B của chúng tôi có tham gia trận cuối cùng mà Việt cộng gọi là Chiến dịch Hồ Chí Minh.

Chiến dịch kết thúc bọn chúng tôi sống sót được vào Thành phố Sài Gòn tráng lệ và ngắm nhìn những Thiếu nữ  miền Nam óng ả mượt mà; thắt đáy lưng ong với những tà áo trắng tinh khôi tung bay , giọng nói ngọt ngào, êm ả, nhẹ nhàng, ôi sao mà tuyệt vời đến thế. Ngoài Bắc tôi chưa bao giờ được nghe những giọng nói trìu mến, thân thương và đáng yêu của giới kia đến thế. 

Cánh quân của chúng tôi tấn công từ Tây Nguyên xuống Gia Định. Mũi miệng còn đầy bụi màu đất đỏ,  như lũ khỉ trong rừng được đặt chân lên  đất của con người trong Thành phố vậy. Chúng tôi ngỡ ngàng cả ra. Ngây ngô như bò đội nón. Bỗng nhiên được  đứng giữaThiên đường…

Sau này năm 1977 tôi sang Đông Đức du học,  tôi thấy trong Siêu thị có bày bán gà làm lông sạch bọc trong túi bóng, tôi mới ngớ người ra là miền Nam ngày trước họ cũng đã từng có hàng đông lạnh làm sẵn như thế này rồi.

Bây giờ ngồi nghĩ lại, tự hỏi  sao ngày đó mình chai mặt đến thế, không biết xấu hổ là gì. 

Phải chăng kiến thức về Văn chương tôi được học trong thơ Tố Hữu ngày đó đã làm cho tôi ngu suy đần độn, để tin vào sự tuyên truyền ma mị của CS:

“Cảm ơn Đảng đã cho ta dòng sữa 

Bống ngàn năm chan chứa ân tình” 

Lẽ ra phải viết thế này mới đúng:

Cảm ơn đảng đã cho ta chai mặt 

Thành lũ khỉ rừng đi tiêu diệt văn minh …

Chú thích: Bài viết này của tôi được viết ra không mang tính thù hận cá nhân của tôi với CS, hay là do tôi mâu thuẫn với chính tôi. Vì tôi không phải là thành phần bất mãn; mà ngược lại. Tôi chỉ phơi bày sự thật. Rằng Dân tộc ta theo đảng, theo bác mang quân vào xâm lược miền Nam là trái đạo! trái với truyền thống của Tổ tiên chúng ta. Họ đã  làm ngược hẳn lại: Lấy hung tàn mà thay nhân nghĩa. 

Mình ở nơi u minh, tăm tối mông muội, man rợ và nghèo đói lại đòi đi giải phóng nơi văn mình, nhân đạo và giàu có hơn mình. Để bắt họ phải cùng khổ, tàn ác và xấu xa như mình!?

Và  tôi nghĩ nếu đảng, bác đi đúng đường thì tất cả dân ta giờ đây ít nhất cũng sướng như tôi rồi. Tôi cũng không nhất thiết phải sang Đức học . Mà các vị cũng không thèm bỏ quê Cha, đất Tổ đi kiếm cơm ăn. Hỏi người Nhật, người Nam Hàn, người Singaphore hay người Đài Loan họ có phải đi làm cu li cho Ngoại bang không? Mà ngược lại mình còn sang nước họ làm thuê cuốc mướn cho họ. Vì Lãnh đạo họ giỏi. Họ tạo ra được công ăn và việc làm cho người Dân. Tôi bức xúc vì tôi không muốn cho Dân tộc tôi nhục muôn đời như thế được. 

Chứ không phải là tôi bức xúc vì cái tôi các vị ạ! Nhiều vị vì không có cách nghĩ như tôi nên bảo tôi vô ơn hay ăn cháo đá bát là sai, là các vị  nghĩ một cách đơn xơ, thiển cận. Cách nghĩ “biết ơn” này  xuất phát từ động cơ ích kỷ. Chỉ nhằm vào cái “tôi” hẹp hòi và rất Việt Nam! Nếu tôi cũng nghĩ “khôn lỏi” như các vị; thì tôi im lặng và thầm biết ơn thì đã không có một Nguyễn Doãn Đôn đang miệt mài ngồi viết đây. Mà Dân tộc ta giờ đây có thể còn tồi tệ hơn cả Bắc Triều Tiên…

Ảnh: Chôm trên mạng

Nguyễn Doãn Đôn

Từng là Đảng viên, Cựu chiến binh Sư 320 B Quân đoàn

May be an image of one or more people and text that says 'BỌN Mỹ CHỈ MỚI ĐỔ BÔ ĐƯƠC LÊN MẶT TRẮNG THÔI NHÁ. CỘN LÂU MỚI SÁNH ĐƯỢC VỚI LIÊN XÔ ĐO Bo LÊN MặT TRỢI. MA LIÊN XÔ HO KHÔN LaM NHÁ! HỌ CHI DO BỘ VÀO BAN ĐỀM THÔI ν BAN NGÀY NÓNG am'


 

TẤM TÌNH FRANK SINATRA – Truyen ngan HAY

Sơn Vũ

Một bài viết đọc xong nước mắt muốn trào ra… Số phận của không ít cựu chiến binh, ở bất cứ quốc gia nào, không phân biệt dân tộc, giọng nói hay màu da gần như giống nhau…

Thỏ đã bắn, chim đã bắt thì cung nỏ còn cần chi nữa?

Trịnh Anh Khôi

TẤM TÌNH FRANK SINATRA

Tháng 12 năm 1972, một đêm Đông lạnh giá bên ngoài sòng bạc Sands ở Las Vegas. Frank Sinatra bước ra khỏi cửa chính sau một buổi diễn lúc nửa đêm đã bán cháy vé, đoàn tùy tùng đi theo ông.

Lực lượng an ninh tạo thành một bức tường ngăn cách giữa ông và đám đông người hâm mộ đang chờ xin chữ ký. Rồi một người đàn ông bỗng bước ra từ bóng tối.

Anh gầy gò, mặc một chiếc áo khoác quân đội rách rưới với một huy hiệu cựu chiến binh Việt Nam lộ rõ ​​trên tay áo. Anh nhìn Frank và hỏi một câu hỏi đơn giản: “Thưa ngài, ngài có thể cho tôi một đô-la không? Tôi chưa ăn gì hôm nay cả”.

Điều Frank làm tiếp theo khiến mọi người trên vỉa hè đều sững lại. Nó khiến lực lượng bảo vệ ông đứng im như tượng. Nó khiến đám đông hoàn toàn im lặng. Bởi vì Frank Sinatra không chỉ cho người kia một đô-la.

Người cựu binh đó là Robert Chen, 26 tuổi. Anh đã phục vụ hai lần ở Việt Nam trong Lực lượng Bộ binh, tham gia chiến đấu ác liệt ở Khe Sanh và thành phố Huế.

Anh trở về nhà năm 1971 với Huân chương Sao Đồng, những vết sẹo vì mảnh đạn trên lưng và những cơn ác mộng khiến anh không thể ngủ được. Giống như hàng ngàn cựu chiến binh khác, Robert trở về một đất nước không muốn nhìn mặt anh.

Anh không thể tìm được việc làm vì các nhà tuyển dụng chỉ cần thấy dòng chữ “Cựu chiến binh Việt Nam” trên đơn xin việc là họ chuyển ngay sang ứng viên khác. Anh không thể ngủ được vì mỗi tiếng động lớn quanh chỗ nằm đều đưa anh trở lại khu rừng rậm Việt Nam. Anh không thể kết nối với gia đình vì họ không hiểu những gì anh đã chứng kiến.

Đến tháng 12 năm 1972, Robert trở thành người vô gia cư, sống lang thang trên đường phố Las Vegas, ngủ trong các con hẻm và mót thức ăn còn thừa từ mọi thùng rác.

Huân chương Sao Đồng được cất giữ ở đâu đó trong một tiệm cầm đồ; anh đã bán nó với giá 30 đô-la từ 2 tháng trước chỉ để mua thức ăn.

Đêm đó, ngày 19 tháng 12, Robert đứng bên ngoài sòng bạc Sands – Ban đầu không phải để ăn xin, chỉ là đứng để cố tìm một chỗ ấm. Anh biết các sòng bạc bơm không khí ấm ra ngoài qua các lỗ thông hơi, và nếu bạn đứng gần lối vào, bạn có thể cảm nhận được hơi nóng.

Bên trong, Frank Sinatra vừa kết thúc buổi diễn của mình. Chín mươi phút nhận được những tràng vỗ tay nhiệt liệt, như thường lệ. Frank mệt mỏi.

Ông đã 57 tuổi, và dù giọng nói không còn như xưa, nó vẫn đủ mạnh mẽ để lấp đầy cả căn phòng và khiến mọi người quên đi những muộn phiền trong vài giờ.

Frank bước ra ngoài qua cửa chính, được bao quanh bởi quản lý, vệ sĩ và trợ lý của ông.

Một đám đông khoảng 50 người đang chờ đợi bên ngoài, họ là người hâm mộ với máy ảnh và sổ xin chữ ký, những người chơi bạc giàu có hy vọng được bắt tay ông. Đó là cảnh tượng thường thấy ở Las Vegas.

Robert thấy Frank bước ra qua cánh cửa kính, và điều gì đó trong anh vỡ vụn. Có lẽ đó là đói, có lẽ là tuyệt vọng, hoặc có lẽ chỉ là nhu cầu được ai đó – Bất cứ ai – nhìn thấy, người đó có thể thừa nhận sự tồn tại của anh.

Anh bước tới. Nhân viên an ninh lập tức chặn anh lại. Họ là những người đàn ông to lớn, cựu cảnh sát, được huấn luyện để giữ mọi người tránh xa Frank.

“Thưa ông, xin lùi lại” – Một người trong số họ nói dứt khoát.

Robert không lùi lại. Anh nhìn qua vai người bảo vệ, thẳng vào Frank. “Ông Sinatra, tôi xin lỗi vì đã làm phiền ông. Tôi là cựu chiến binh. Tôi chỉ cần một đô-la để mua thức ăn. Chỉ một đô-la thôi, làm ơn”.

Người bảo vệ đặt tay lên ngực Robert: “Tôi bảo anh lùi lại”.

Nhưng Frank đã nghe thấy. Ông đã nhìn thấy chiếc áo khoác quân đội, huy hiệu chiến tranh Việt Nam, và ánh mắt trống rỗng của Robert. Frank nhận ra ánh mắt đó vì chính mình đã từng thấy nó trước đây – Trong mắt cha ông sau thời kỳ Đại khủng hoảng, và trong mắt bạn bè ông sau Thế chiến II.

Frank khoát tay: “Chờ đã”.

Người bảo vệ dừng lại. Toàn bộ đám đông im lặng, mọi người đều dõi theo.

Frank bước qua người bảo vệ và đứng đối mặt với Robert. Ông thực sự nhìn kỹ anh ta – Đôi má hóp lại, đôi tay run rẩy, chiếc áo khoác quá mỏng so với tháng Mười Hai ở đây.

“Tên anh là gì?” – Frank hỏi.

“Robert Chen”.

“Anh từng phục vụ trong quân đội?”.

“Vâng, thưa ông. Lục quân, hai đợt”.

Frank gật đầu chậm rãi: “Ở đâu?”.

“Khe Sanh. Thành phố Huế”.

“Chuyện đó thật tệ” – Frank thì thầm.

“Vâng, thưa ông. Đúng vậy”.

Frank thò tay vào túi. Đám đông nghiêng người về phía trước, quan sát, mong chờ ông rút ra một đô-la, có thể năm đô-la, hoặc hai mươi đô-la nếu Robert may mắn. Nhưng Frank rút ví, mở ra và lấy tất cả các tờ tiền bên trong. Hàng trăm, năm mươi, hai mươi đô-la, tổng cộng có lẽ khoảng 800 đô-la. Ông đưa nó cho Robert.

Robert nhìn chằm chằm vào số tiền. Anh không nhận: “Thưa ông, tôi chỉ xin một đô-la thôi”.

“Tôi biết anh cần gì?” – Frank nói – “Tôi đang cho anh những gì anh cần”.

“Tôi không thể nhận số tiền này”.

“Có, anh có thể” – Frank nắm lấy tay Robert, đặt tiền vào tay anh và khép các ngón tay của Robert lại quanh cuộn tiền đó – “Nghe này. Anh đã phục vụ đất nước. Anh đã làm những gì họ yêu cầu anh làm, và anh trở về tay trắng. Điều đó không đúng. Điều đó không công bằng. Và tôi không thể sửa chữa cả thế giới, nhưng tôi có thể giúp anh tối nay. Cầm lấy tiền đi”.

Robert rưng rưng mắt: “Tại sao?”.

“Vì cha tôi đã từng như anh” – Frank đáp – “Cuộc chiến tranh khác, nhưng câu chuyện giống nhau. Ông ấy trở về từ Thế chiến thứ nhất với hai bàn tay trắng. Làm việc quần quật đến chết để mưu sinh. Tôi đã chứng kiến ​​ông ấy vật lộn suốt thời thơ ấu của tôi. Và tôi thề rằng nếu tôi có tiền, nếu tôi có cơ hội giúp đỡ một người như ông ấy, tôi sẽ làm”.

Frank quay sang người quản lý của mình: “Đặt cho anh ta một phòng ở khách sạn Sands này. Một tuần. Tính vào hóa đơn của tôi”.

Người quản lý gật đầu, lấy ra một cuốn sổ tay.

Frank quay lại phía Robert: “Tối nay anh sẽ nhận phòng trong khách sạn này. Anh sẽ được ăn uống. Anh sẽ được ngủ trên một chiếc giường thực sự. Và ngày mai, anh đến gặp tôi. Tôi có một người bạn điều hành một công ty xây dựng. Anh ấy thuê cựu chiến binh. Công việc tốt. Anh có hứng thú không?”.

Robert không thể nói nên lời. Anh chỉ gật đầu, nước mắt chảy dài trên khuôn mặt.

“Tốt” – Frank đặt tay lên vai Robert – “Anh không còn cô đơn nữa. Anh hiểu tôi chứ? Dù anh đã mang vác điều gì, anh không cần phải mang một mình nữa”.

Rồi Frank làm một điều mà không ai ngờ tới. Ông cởi áo khoác của mình. Đó là chiếc áo cashmere đắt tiền, được may đo riêng, trị giá hơn thu nhập cả tháng của hầu hết mọi người. Ông khoác nó lên vai Robert.

“Tối nay trời lạnh” – Frank nói. Đám đông đứng chết lặng. Một số người khóc. Một người phụ nữ ở phía trước lấy tay che miệng. Một trong những vệ sĩ của Frank lau nước mắt.

Frank quay sang đám đông: “Người đàn ông này đã phục vụ đất nước. Anh ấy đã chiến đấu trong một cuộc chiến mà hầu hết chúng ta chỉ xem trên TV. Anh ấy trở về tay trắng. Không việc làm, không sự hỗ trợ, không sự tôn trọng. Thật đáng xấu hổ. Đó là lỗi của tất cả chúng ta”.

Ông nhìn thẳng vào đám đông: “Tối nay các bạn đến đây để xem biểu diễn, để vui chơi, để quên đi những vấn đề của mình. Điều đó tốt thôi. Nhưng đừng quên những người như Robert. Đừng bước qua họ. Đừng giả vờ như họ vô hình, bởi vì họ không phải vậy. Họ là những người hùng, và chúng ta nợ họ tất cả mọi thứ”.

Frank quay lại nhìn Robert: “Vào trong đi. Nói với họ là Frank đã gửi anh đến. Họ sẽ chăm sóc anh”.

Robert cố gắng nói nhưng không thành công. Anh chỉ ôm chầm lấy Frank ngay trên vỉa hè. Người cựu chiến binh vô gia cư và ngôi sao lớn bậc nhất thế giới ôm chặt lấy nhau trong khi 50 người khác im lặng theo dõi.

Khi Robert buông ra, Frank khẽ nói: “Còn một điều nữa. Cậu cứ giữ lấy chiếc áo khoác đó. Nó hợp với cậu hơn là với tôi”.  Rồi Frank đi đến xe của mình, lên xe và rời đi.

Đám đông đứng đó một lúc lâu. Không ai nhúc nhích. Không ai nói gì. Rồi, từ từ, mọi người bắt đầu thò tay vào túi, rút ​​tiền ra, đi về phía Robert và đưa cho anh. Hai mươi, năm mươi, một trăm đô-la.

Một người phụ nữ cởi khăn quàng cổ của mình và đặt vào tay Robert. “Cảm ơn vì sự phục vụ của anh” – Bà thì thầm.

Khi đám đông giải tán, Robert Chen đã cầm trên tay hơn 3.000 đô-la và mặc chiếc áo khoác của Frank Sinatra.

Tối đó, anh nhận phòng 847 tại khách sạn Sands. Anh tắm 40 phút – Lần tắm nước nóng đầu tiên sau 8 tháng. Anh gọi dịch vụ phòng – Bít-tết và trứng – rồi ăn chậm rãi, thưởng thức từng miếng.

Sáng hôm sau, anh gặp bạn của Frank tại công ty xây dựng, một người tên là Joe Columbo, một cựu lính Thủy đánh bộ từng phục vụ ở Hàn Quốc. Anh ấy hiểu ngay câu chuyện.

“Frank đã gọi cho tôi“ – Joe nói – “Anh ấy đã kể với tôi về anh. Tôi có một vị trí đang trống. Lương 75 đô la một ngày. Anh bắt đầu làm việc vào thứ Hai. Anh có muốn nhận không?”.

Robert gật đầu: “Vâng, thưa ông. Tôi muốn nhận”.

Joe mỉm cười. “Tốt. Và đừng gọi tôi là ông nữa. Tôi làm việc để kiếm sống thôi mà…”.

Robert làm việc cho Công ty Xây dựng Columbo trong 32 năm tiếp theo. Ông cuối cùng trở thành quản lý dự án, và giám sát các công trình xây dựng lớn trên khắp Las Vegas. Ông có một cuộc sống tốt đẹp, kết hôn, có ba đứa con và mua một căn nhà.

Ông giữ lại chiếc áo khoác của Frank. Ông không bao giờ mặc nó nữa, cất giữ nó trong một tủ đặc biệt, giặt khô mỗi năm một lần, được bảo vệ như một vật thiêng liêng.

Khi Frank Sinatra qua đời vào ngày 14 tháng 5 năm 1998, Robert Chen, khi đó là một giám đốc điều hành đã nghỉ hưu, đã bay đến California.

Ông không cố gắng tham dự buổi lễ riêng tư cùng với những người nổi tiếng và các chức sắc. Ông chỉ đơn giản đứng bên ngoài nhà thờ, mặc chiếc áo khoác cashmere màu sữa đó lần đầu sau 26 năm. Ông đứng gác, giống như hồi còn ở Việt Nam, trông chừng người đàn ông đã cứu mạng mình.

Khi một phóng viên để ý thấy chiếc áo khoác – Rõ ràng là đồ cổ, rõ ràng là đắt tiền – và hỏi ông về nó, Robert chỉ mỉm cười, vỗ nhẹ ve áo và nói: “Một người bạn đã tặng tôi chiếc áo này từ lâu. Anh ấy nói rằng mặc nó hợp với tôi hơn là với anh ấy. Tôi chỉ đến đây để nói lời cảm ơn”.

Robert Chen qua đời năm 2016. Ông được chôn cất cùng với Huân chương Sao Đồng, thứ mà cuối cùng ông đã tìm lại và mua lại được. Và trong quan tài của ông, được gấp gọn gàng dưới chân, là chiếc áo khoác của Frank Sinatra.

Một lời cuối cùng: Một hành động tử tế, một khoảnh khắc bạn nhìn thấy ai đó khi cả thế giới ngoảnh mặt làm ngơ họ, có thể bạn sẽ thay đổi cuộc đời họ mãi mãi.

Photo: Frank Sinatra và Robert Chen

May be an image of overcoat and text


 

Người ta có thể nhờ làm việc lành mà lên Thiên đàng không?- Cha Vương

Một ngày tràn đầy yêu thương và tha thứ nhé.

Cha Vương

Thứ 5: 12/2/2026. (t4-25)

GIÁO LÝ: Người ta có thể nhờ làm việc lành mà lên Thiên đàng không? Không. Không ai có thể lên Thiên đàng chỉ nhờ cố gắng của mình. Chúng ta được cứu độ chỉ nhờ ơn Chúa mà thôi, tuy nhiên, ơn Chúa đòi sự cộng tác tự do của mỗi cá nhân. (YouCat, số 341)

   Không phải cứ nhận mình là người Công giáo, cứ nói tôi tin có Chúa, nhưng đời sống của  tôi lại hoàn toàn mâu thuẫn với niềm tin đó, vì vẫn  ăn gian nói dối, ngoại tình, gian lận, tôn thờ tiền bạc và của cải vật chất, oán thù, ghen ghét, cờ bạc, mãi dâm, nhẩy nhót, ca hát vui chơi  sa đọa … thì có nói cả ngàn lần “ Lạy Chúa, Lạy Chúa” cũng vô ích mà thôi bạn ạ!

SUY NIỆM: Có lẽ câu trả lời “không” ở trên làm bạn ngạc nhiên. Nhưng thực ra không ai tự cứu mình được. Giữa lúc bệnh tật, đói nghèo, khổ đau, tuyệt vọng, giữa cái sống và cái chết, những lúc như thế thì “Đức Tin” như chiếc phao cứu hộ, giúp ta có niềm hy vọng. Ngược lại dù tài bơi lội của bạn có giỏi đến đâu đi nữa, giữa biển sâu sóng ngầm, bạn cũng cần một chiếc phao (Đức Tin).

 Dầu chỉ nhờ ân sủng và đức tin mà ta được cứu rỗi, thì vẫn còn cần đến tình yêu ta, được thúc đẩy bởi tác động của Chúa, bày tỏ qua các việc lành. (YouCat, số 341 t.t.)

❦  Đức tin là bảo đảm cho những điều ta hy vọng, là bằng chứng cho những điều ta không thấy. (Dt.11:1)

❦  Đức Tin không việc làm là Đức Tin chết, việc làm không có đức tin là vô nghĩa.

❦  Chúa không đòi ta những công việc lớn, mà đơn giản là ta hiến mình cho Chúa và tạ ơn Người. Người không cần việc làm của ta nhưng chỉ cần duy nhất là tình yêu của ta. (Thánh Têrêxa ở Lisieux)

LẮNG NGHE: Quả vậy, chính do ân sủng và nhờ lòng tin mà anh em được cứu độ: đây không phải bởi sức anh em, mà là một ân huệ của Thiên Chúa; cũng không phải bởi việc anh em làm, để không ai có thể hãnh diện. (Ep 2:8-9)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, xin ban thêm lòng tin cho con, lòng tin bằng việc tuân giữ và thực hành những gì Chúa đã truyền dạy cho con trong Tin Mừng để mọi việc con làm cho danh Chúa được cả sáng hơn.

THỰC HÀNH: Là người Kitô hữu, vậy thì thử hỏi: Bạn có thực sự tin vào Ngài không? Bạn tin nhưng bạn có yêu Ngài không? Bạn yêu Ngài nhưng bạn có làm cho tình yêu của Ngài được triển nở và lan tỏa bằng hành động không?

From: Do Dzung

*********************

CHỈ MÌNH CHÚA – Sáng tác: Sr Maria, SLE | Tuyết Sương

Lễ Đức Mẹ Lộ Đức  – Cha Vương

 Chúc Bạn và gia đình một ngày an lành! Hôm nay ngày 11/2, Giáo Hội mừng kính Lễ Đức Mẹ Lộ Đức nơi mà rất nhiều bệnh nhân đã tìm đến hang đá và suối nước này cầu nguyện và cảm thấy được Mẹ nâng đỡ, nhiều người còn được ơn chữa lành. Chính vì vậy, Giáo hội cũng chọn ngày này là ngày quốc tế bệnh nhân. Ta hãy làm việc hy sinh và cầu nguyện xin ơn chữa lành cho các bệnh nhân hôm nay nhé.

Cha Vương

Thứ 4: 11/2/2026.  (t6-22)

   Tín điều “Đức Mẹ Vô nhiễm” mà Đức Piô IX tuyên tín năm 1854 như một ngọn đèn pha chiếu sáng vào mầu nhiệm Nhập Thể cứu thế để củng cố đức tin dân Chúa trong thế kỷ XIX, khi mà làn sóng vô thần tại  Au châu từ nền văn minh khoa học nổi lên chống Thiên Chúa cứ mỗi ngày tràn lan. Đức Mẹ đã hiện ra tại Paris, La Salette, và Lộ Đức để cản ngăn. Nhất là tại Lộ Đức, Đức Mẹ hiện ra năm 1858 để chuẩn nhận tín điều “Mẹ Vô nhiễm” năm 1854.

   Lộ Đức năm 1858 là một thành phố chừng 5,000 cư dân, nằm cạnh sông Pau, lối vào thung lũng dẫy núi Pyrénées phía đông nam nước Pháp, giáp ranh giới Tây Ban Nha. Đức Mẹ chọn Bernađetta Soubinous, 14 tuổi, con nhà nghèo, đau yếu, đơn sơ thật thà tuy chưa học giáo lý. Trưa ngày 11 tháng 2 là thứ Năm sau lễ Tro, Bernađetta cùng với em là Antoinetta và cô bạn Jeanna đi vào rừng kiếm củi đốt lò sưởi. Cô em và cô bạn lội qua sông nước cạn, Bernađetta chưa kịp trụt giầy lội theo, còn đang đứng trước hang Massabielle. Bỗng một cơn gió mạnh, Bernađetta nhìn lên thấy một áng mây vàng và một Bà Đẹp hiện ra. Bà mặc áo dài trắng, đội khăn lúp dài trắng, thắt lưng xanh lơ, đeo tràng hạt vàng ở cánh tay phải. Mỗi chân Bà có một bông hồng vàng. Bà nhìn Bernađetta, mỉm cười và làm dấu thánh giá lần chuỗi, môi không mấy máy. Bernađetta quì xuống lần chuỗi với Bà. Bà làm hiệu bảo Bernađetta tới gần, nhưng Bernađetta sợ không dám. Rồi Bà biến đi. Cô em và cô bạn không thấy gì, chỉ có Bernađetta được thấy sự lạ.

   Lần thứ hai, trưa Chúa nhật ngày 14, mười người kể cả cô em và cô bạn cùng với Bernađetta ra hang. Bà hiện ra. Bernađetta vẩy nước phép để biết chắc không phải là ma quái. Bà chỉ mỉm cười, không nói gì.

   Từ ngày 18-2 tới ngày 4-3, Bà hiện ra 13 lần và ban sứ điệp cho Bernađetta. Số người đi xem từ mấy người tăng dần tới 8,000 người.

   Ngày 25 tháng Ba là lễ Truyền tin. Bà xưng mình: “Ta là Đấng Vô nhiễm thai” (“I am the Immaculate Con-ception”). Bà còn hiện ra hai lần nữa, ngày mồng 7-4 và ngày 16-7. Như vậy Bà Đẹp đó là chính Đức Mẹ. Người hiện ra tại hang Massabielle tất cả 18 lần. Đức Mẹ nói tiếng thổ ngữ Burgundian mà Bernađetta thường nói.

   Năm 1866, Bernađetta nhập tu dòng Nữ tử Bác ái tại tu viện St. Gildard thành phố Nevers. Chị bị bệnh xuyễn và lao xương chân đau đớn và qua đời ngày 16 tháng 4 năm 1849, chẵn 35 tuổi. Lời nguyện cuối cùng trên môi miệng chị là: “Thánh Maria, Mẹ Thiên Chúa, xin cầu cho con là một tội nhân khốn nạn”. Trong thời gian chịu bệnh đau đớn, chị viết một câu tóm lược đời sống của chị: “Vâng lời là yêu mến!  âm thầm chịu khổ vì Chúa Kitô là vui sướng. Chân thành yêu mến là hiến dâng mọi sự, kể cả nỗi đớn đau”.Chị Bernađetta được phong Á Thánh năm 1925 và Hiển Thánh năm 1933.

   Những sứ điệp Đức Mẹ Lộ Đức ban:

(1) Sứ điệp riêng cho Bernađetta: Đức Mẹ nói với Bernađetta: “Con có muốn đến đây mỗi ngày trong hai tuần không? Ta không hứa cho con được hạnh phúc ở đời này nhưng đời sau”. Đức Mẹ còn nói với Bernađetta ba điều bí mật mà Bernađetta không bao giờ tiết lộ.

(2) Sứ điệp thống hối đền tội: Hiện ra lần thứ 8 ngày 24 tháng 2, Đức Mẹ nhắn nhủ: “Hãy ăn năn đền tội. Hãy ăn năn đền tội. Hãy cầu xin Thiên Chúa cho các tội nhân. Hãy quì lê vào hang và hôn đất để đền tội cho các tội nhân”. Hiện ra lần thứ 9 ngày 25 tháng 2, Đức Mẹ chỉ bảo “bới dưới tảng đá để có mạch nước vọt lên và hãy uống. Hãy ăn một ít cỏ mọc chung quanh mạch nước”.

(3) Sứ điệp cho Giáo hội: Hiện ra lần thứ 13 ngày mồng 2 tháng 3, Đức Mẹ xin “xây một đền thờ tại đây và muốn hang Massabielle sẽ là nơi hành hương và những cuộc rước”.

(4) Sứ điệp vinh quang của Đức Mẹ: Hiện ra lần thứ 16 trùng lễ Truyền tin ngày 25 tháng Ba, vì Bernađetta khẩn khoản nài xin, Đức Mẹ xưng mình: “Ta là Đấng Vô nhiễm thai”.

(5) Sứ điệp của Mẹ âm vang Phúc âm: 

1) Hãy tỉnh thức và cầu nguyện (Mt 26:41).

 2) Hãy cải thiện đời sống, Nước Trời đã gần đến (Mt 4:17).

 3) Ai uống nước Ta ban sẽ không bao giờ khát (Ga 4:14). 

4) Con là Đá. Trên đá này, Ta sẽ xây Giáo hội của Ta (Mt 16:18). 

5) Ta luôn ở cùng các con cho tới ngày tận thế (Mt 28:20).

 (Nguồn: Đồng Công)

❦  Để bày tỏ lòng yêu mến Mẹ, mời Bạn hãy siêng năng lần hạt Mân Côi nhé.

From: Do Dzung   

************************

Ave Maria Ánh Trăng Từ Bi – Lm. Nguyễn Duy –  Ca Sỹ : Công Minh

TÔI VẪN ĐIẾC – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

 Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Ephphata, hãy mở ra!”.

“Có nhiều lý do khiến Chúa không nên gọi bạn… Satan nói, ‘Bạn không xứng đáng!’; Giêsu nói, ‘Vậy thì đã sao?’. Ngài là Đấng tháo cởi, đầy tha thứ!” – Paul Cho Yonggi.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay không chỉ kể chuyện một người câm điếc được chữa lành, nhưng chạm đến nơi sâu nhất của mỗi chúng ta: Thiên Chúa – Đấng tháo cởi – vẫn nói, vẫn chạm, vẫn mở; chỉ có điều, giữa bao tiếng ồn và tự ái, ‘tôi vẫn điếc!’.

Điếc không phải vì Chúa im lặng, nhưng vì chúng ta quen nghe mình hơn nghe Chúa. Thánh Vịnh đáp ca nhắc, “Ta là Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hãy nghe Ta răn bảo!”. Lời không thiếu; chỉ thiếu một trái tim mở. Salômôn đã từng xin một “tâm hồn biết lắng nghe”, nhưng rồi để lòng mình chia năm xẻ bảy; và khi người lãnh đạo không còn nghe Lời, vương quốc ắt xé thành nhiều mảnh – bài đọc một. “Vấn đề không nằm ở việc Thiên Chúa không nói, mà là tôi không còn nghe!” – Ermes Ronchi.

“Không còn nghe” được gọi là “điếc thiêng liêng”. Điếc thiêng liêng nguy hiểm ở chỗ nó rất đạo đức. Chúng ta có thể nói nhiều về Chúa, mà không thực sự để Ngài chạm tới những vùng cứng nhất. Chúng ta có thể hát rất to, nhưng không nghe tiếng rên của người nghèo, của gia đình mình, của chính lương tâm đang khát. Đó là một thứ điếc khiến chúng ta không còn xao động; không còn đỏ mặt vì tội; không còn run lên vì Lời. “Mỗi ngày thức dậy, hãy tự hỏi: tôi có còn biết lắng nghe? Tôi có để mình bị đánh động bởi nỗi đau của người khác? Hay tôi đã quen nghe chính mình?” – Phanxicô.

Vì khi tim đã chai, miệng sẽ nói những điều trống rỗng; khi tim không mở, tai có nghe cũng chỉ là âm thanh lướt qua, và ‘tôi vẫn điếc!’. Nhưng nếu mở lòng, tràn đầy Chúa Kitô, chúng ta không thể không làm chứng cho Ngài. Một khi tim mở, miệng sẽ mở; một khi tim mềm, đời sống sẽ nói thay. Không bằng những diễn văn dài, nhưng bằng một chọn lựa ngay thẳng, một sự trung tín âm thầm, một thái độ biết lắng nghe người khác. “Chúa Giêsu không chỉ mở miệng người câm, mà còn muốn mở tâm hồn bạn!” – Robert Barron.

Anh Chị em,

Chúa Giêsu thì khác. Ngài luôn nghe Cha. Giữa đám đông ồn ào, Ngài vẫn nghe Cha; giữa chống đối và nhục hình, Ngài vẫn nghe Cha; và trên thập giá, trong thinh lặng dày đặc, Ngài không ngừng hướng về Cha. Chính vì luôn nghe, Ngài mới có thể nghe tiếng kêu của các linh hồn và trao ban chính mình. Con Một không điếc trước Cha, để nhân loại không còn điếc trước tình yêu. Từ thập giá, Ngài không chỉ kêu “Ta khát”, nhưng còn nghe cơn khát của các linh hồn. Đó là một trái tim không điếc, một Người Con luôn ở trong tương quan sống động với Cha. “Hãy mở ra!”, lời ấy hôm nay không chỉ dành cho đôi tai, nhưng cho cả những vùng tối nhất nơi chúng ta. Nếu dám thừa nhận mình điếc, chúng ta sẽ được chạm; nếu dám để Ngài chạm, chúng ta sẽ được mở.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin mở tai con trước khi con chỉ biết nói; xin mở tim con trước khi con chỉ nghĩ về mình; ‘cho con nghe Cha như Con đã nghe Cha’, ngay cả dưới bóng thập giá!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

*********************************************

Lời Chúa Thứ Sáu, Tuần V Thường Niên, Năm Chẵn

Đức Giê-su làm cho kẻ điếc nghe được, và kẻ câm nói được.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mác-cô.     Mc 7,31-37

31 Khi ấy, Đức Giê-su bỏ vùng Tia, đi qua ngả Xi-đôn, đến biển hồ Ga-li-lê vào miền Thập Tỉnh. 32 Người ta đem một người vừa điếc vừa ngọng đến với Đức Giê-su, và xin Người đặt tay trên anh. 33 Người kéo riêng anh ta ra khỏi đám đông, đặt ngón tay vào lỗ tai anh, và nhổ nước miếng mà bôi vào lưỡi anh. 34 Rồi Người ngước mắt lên trời, thở dài và nói : Ép-pha-tha, nghĩa là : hãy mở ra ! 35 Lập tức tai anh ta mở ra, lưỡi như hết bị buộc lại. Anh ta nói được rõ ràng. 36 Đức Giê-su cấm họ không được kể chuyện đó với ai cả. Nhưng Người càng cấm, họ càng đồn ra. 37 Họ hết sức kinh ngạc, và nói : “Ông ấy làm việc gì cũng tốt đẹp cả : ông làm cho kẻ điếc nghe được, và kẻ câm nói được.”


 

TINH TÚY CỦA LỀ LUẬT – Pt Giuse Trần Văn Nhật

Pt Giuse Trần Văn Nhật

Trong năm 1998, tờ Washington Post có đăng một câu chuyện của Mục Sư Daniel Crocker sống ở ngoại ô Virginia.  Ông làm quản lý một kho hàng nên đời sống khá tươm tất, nhưng ông không thực sự hạnh phúc bởi vì lương tâm của ông vẫn bị ray rứt bởi một điều bí ẩn, đó là mười chín năm trước, ông đã giết một phụ nữ ở Kansas tên là Tracy Fresquez và người ta không tìm ra thủ phạm.

 Tuy vụ án đã chìm vào quên lãng nhưng ông Daniel không thể quên được.  Sau cùng, ông trở về với Thiên Chúa để xin ơn tha thứ và trở nên một Kitô Hữu.  Ông lập gia đình, có hai con và ngày càng lớn lên trong đức tin và chính ông trở thành một mục sư trong Giáo Hội Tin Lành.  Tuy vậy, ông vẫn không đủ can đảm để trình diện với nhà chức trách về tội ác ghê tởm mà ông đã phạm mười chín năm trước đây.

 Mục Sư Daniel làm tuyên uý nhà tù và một ngày kia sau khi thi hành công tác mục vụ ở nhà tù về, ông tiết lộ bí mật đó với vợ ông, bà Nicolette.  Sau đó hai người bàn tính việc thú tội với nhà chức trách ở Kansas.  Điều khó khăn nhất cho ông là phải nói thế nào với hai con nhỏ của ông, một đứa chín tuổi và một đứa tám tuổi, về việc từ giã các con để đi tù.

 Đến ngày ra đi, các con ông khóc nức nở, nài nỉ ông đừng đi, và ông nói: “Bố phải trình diện thú tội.  Vì nếu bố dậy các con phải sống Lời Chúa mà bố lại không thi hành thì bố là người giả hình.”  (trích và dịch trong Prison Fellowship Ministries).

Câu chuyện này, nói chung, đưa đến hai phản ứng khác nhau của người nghe.  Có người khâm phục Mục Sư Daniel vì đã can đảm sống đức tin của mình, nhưng cũng có người cho là ông đã dại dột ra trình diện để bị tù, bởi vì tội giết người của ông đã chìm vào quên lãng.  Hai phản ứng này tiêu biểu cho những người có đức tin vào Thiên Chúa là Đấng vô cùng nhân hậu nhưng cũng vô cùng công bằng, và những người không tin có sự sống bất diệt ở đời sau nên cũng không có Đấng nào để xét xử.

 Xã hội loài người cần có các luật lệ để điều hòa trật tự trong xã hội.  Trong Do Thái Giáo và Kitô Giáo có Mười Điều Răn để hướng dẫn đời sống con người nói chung, nhưng vì ảnh hưởng của tội nguyên thủy nên con người không thể làm chủ chính mình, do đó trong Do Thái Giáo, họ còn viết ra hàng trăm điều luật để hướng dẫn tín hữu.  Giáo Hội Công Giáo cũng có bộ Giáo Luật để hướng dẫn đời sống giáo dân.  Chúa Giêsu cũng xác nhận sự cần thiết của lề luật, “Đừng nghĩ rằng Thầy đến để phá bỏ lề luật hay lời các ngôn sứ.  Thầy đến không phải để bác bỏ nhưng để kiện toàn” (c. 17).

 Chúa Giêsu đã kiện toàn lề luật như thế nào?  Qua bài phúc âm hôm nay, chúng ta thử đưa ra một vài điểm của lề luật để có thể áp dụng vào đời sống theo tinh thần của Chúa Giêsu. 

Trước hết, chúng ta cần nhìn thấy lý do sâu xa của lề luật.  Thí dụ, lý do của luật đi đường là giữ an toàn cho mọi người, nhưng người vượt đèn đỏ gây tai nạn bởi vì họ chỉ nhìn thấy đèn xanh đỏ và không có bóng dáng cảnh sát, chứ họ không nghĩ đến sự an toàn là lý do chính của luật. 

Hoặc Giáo Hội kêu gọi chúng ta tham dự Thánh Lễ Chúa Nhật với hy vọng là qua các bài đọc, bài giảng, nghi thức phụng vụ, chúng ta sẽ thay đổi lối sống của mình ngày càng tốt hơn, chứ đừng cho rằng các hình thức đạo đức bên ngoài là đã chu toàn bổn phận của một tín hữu Kitô.

Chúa Giêsu đã cảnh cáo các môn đệ ngày xưa, và gián tiếp cảnh cáo chúng ta ngày nay về thái độ đạo đức bề ngoài, “Nếu sự công chính của anh [chị] em không trổi vượt hơn các kinh sư và Biệt Phái, anh [chị] em sẽ không vào được Nước Trời.”  Các kinh sư và Biệt Phái là những người tuân giữ lề luật rất cặn kẽ, họ giảng dạy người khác về luật của Chúa nhưng họ không thay đổi đời sống theo tinh túy của lề luật.  Vì thế Chúa nói, “Hãy thi hành và tuân giữ mọi điều họ nói với anh em, nhưng đừng theo gương của họ.  Vì họ giảng dạy nhưng họ không thực hành” (Mt 23:3).  Nói cách khác, nếu chúng ta chỉ chú ý đến các hình thức đạo đức bên ngoài thì Kitô Giáo sẽ chẳng ích lợi gì cho chúng ta. 

Khi không thấy được lý do sâu xa của luật lệ, người ta sẽ coi luật lệ của Hội Thánh là một cản trở sự tự do của con người.  Thực tế là việc chuẩn bị hôn nhân.  Giáo Hội yêu cầu các đôi nam nữ phải trải qua sự chuẩn bị này trước khi kết hôn với hy vọng là họ sẽ được chuẩn bị kỹ lưỡng trước khi bước vào một đời sống mà chắc chắn sẽ có nhiều khó khăn.  Rất tiếc, nhiều người coi đó như một gánh nặng của lề luật nên họ tìm cách tránh né hoặc thi hành cách hời hợt. 

Điểm thứ hai là chúng ta cần để ý đến động lực của hành động.  Việc giết người có thể phát sinh từ động lực là sự tức giận.  Chúa nói, “ai tức giận anh em mình thì đáng bị luận phạt.”  Chỉ tức giận thôi, chưa cần phải giết người thì cũng đã bị lên án.  Điểm chính là Chúa muốn chúng ta ngăn chặn hành động xấu xa ngay từ bên trong tâm hồn, bởi vì người ta có thể giết người không cần gươm giáo, súng đạn mà bằng những âm mưu thâm độc. 

Tương tự như vậy đối với tội ngoại tình.  Chúa nói, “Ai nhìn người đàn bà với sự thèm muốn thì đã ngoại tình với người ấy trong tâm hồn.”  Chúa Giêsu nhìn đến trọng tâm của hôn nhân là tình yêu.  Nếu vợ chồng không kềm hãm động lực của ngoại tình là sự thèm muốn, hậu quả là gia đình sẽ tan vỡ vì tình yêu vợ chồng không còn nguyên vẹn, đằm thắm như trước. 

Điểm cuối cùng là sống ngay thẳng.  Chúa dạy chúng ta, “Có thì nói có, không thì nói không.  Mọi sự thêm bớt là từ ác quỷ.”  Có lẽ đây là điểm khó khăn nhất cho chúng ta, những người muốn theo Chúa Kitô mà phải sống trong một xã hội tân tiến, dồi dào tiện nghi nên sinh ra nhiều cám dỗ đủ mọi loại – giầu sang, danh vọng, chức quyền, v.v…, và rồi chúng ta buông xuôi, sống trôi nổi theo dòng đời.

 Điều nguy hiểm khi sống không ngay thẳng là lương tâm của chúng ta không còn đúng đắn theo các lời khuyên của Chúa trong Phúc Âm, và thay vì trở nên “muối cho đời, và ánh sáng cho thế gian”, thay vì đem đạo vào đời, chúng ta lại đưa đời vào đạo trong các đoàn thể, các sinh hoạt đạo đức trong nhà thờ.  Như thế, những công việc phục vụ Giáo Hội và tha nhân, thay vì giúp chúng ta thấy được ý nghĩa của đời sống và rèn luyện bản thân, nó có thể trở nên cơ hội để kiếm danh vọng, địa vị, để được tiếng khen là đạo đức mà những cám dỗ ấy quá mạnh đến độ chúng ta không còn ngay thẳng, không còn chính trực trong lối đối xử. 

Tóm lại, luật lệ, nói chung, để đem lại hạnh phúc cho con người, và Chúa Giêsu đã kiện toàn lề luật bằng cách nêu cao mục đích sâu xa của lề luật, đó là để giúp chúng ta có được hạnh phúc đích thực mà hạnh phúc đó không do bởi thỏa mãn dục vọng, hay ý muốn riêng của mình nhưng bởi làm chủ được con người của mình. 

Con người được dựng nên theo hình ảnh và giống như Thiên Chúa, và một trong những điểm quan trọng là sự tự do.  Thiên Chúa có tự do hành động thì loài người cũng được tự do lựa chọn.  Trong cuộc sống hàng ngày, hầu như lúc nào chúng ta cũng phải lựa chọn, đúng như bài đọc I hôm nay đã nói, “Trước mặt con người là sự sống và sự chết, sự lành và sự dữ, ai thích điều gì thì sẽ được điều đó…  Nếu con chọn tuân giữ các giới răn, các giới răn đó sẽ giải thoát con.”  (Dịch theo New American Bible, Revised Edition – Sir. 15:15-17).  Thánh Vịnh Đáp Ca hôm nay cũng nói, “Phúc cho ai tuân giữ mệnh lệnh của Thiên Chúa!”  Cầu mong sao chúng ta thấy được tinh túy của lề luật và can đảm vâng phục.

 Pt Giuse Trần Văn Nhật

From: Langthangchieutim


 

San Diego: sơ xuất làm chết bệnh nhân, bác sĩ Nguyen bị khiển trách, phạt trả phí hơn 37.000 đô la

Hai Phan

San Diego: sơ xuất làm chết bệnh nhân, bác sĩ Nguyen bị khiển trách, phạt trả phí hơn 37.000 đô la

LA MESA, California (VB) — Một bác sĩ gốc Việt ở La Mesa (quận San Diego, California) đã bị khiển trách công khai vì đã kê đơn thuốc cho một bệnh nhân có tiền sử dị ứng, dẫn đến cái chết của bệnh nhân này, theo bản tin đài CBS 8.

Theo tài liệu của Hội đồng Y khoa, bác sĩ Dat William Nguyen đang điều trị cho một phụ nữ 72 tuổi tại Trung tâm Y tế Alvarado cũ ở La Mesa vì khó thở. Người phụ nữ này mắc bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính (COPD: chronic obstructive pulmonary disease) và tâm thần phân liệt (schizophrenia), đã đến bệnh viện vào ngày 19 tháng 10 năm 2022.

Bác sĩ Nguyen đã cố gắng kê đơn thuốc Rocephin để giúp điều trị bệnh viêm phổi của người phụ nữ. Một cảnh báo y tế hiện lên khi bác sĩ Nguyễn cố gắng cho bệnh nhân uống thuốc, báo hiệu rằng bệnh nhân bị dị ứng với thuốc đó. Theo hội đồng y khoa, bác sĩ Nguyễn đã không mở thông báo cảnh báo mà vẫn kê đơn thuốc khác.

Khi đang lái xe về nhà, cuộc điều tra của hội đồng y khoa cho biết dược sĩ của bệnh viện đã gửi cho ông một tin nhắn. Theo biên bản kỷ luật của hội đồng y khoa, dược sĩ đã khuyên bác sĩ Nguyễn chuyển lại dùng Rocephin, nói rằng tác dụng phụ duy nhất đối với bệnh nhân là lo lắng và có thể ngất xỉu.

Bác sĩ Nguyễn đã đổi thuốc trở lại Rocephin. Vài phút sau, y tá của bệnh nhân đọc hồ sơ bệnh án và gọi điện cho bác sĩ để báo về tình trạng dị ứng của bệnh nhân.

“Trong cuộc gọi điện thoại đó, bị cáo đã nói với y tá trực rằng ông biết [bệnh nhân] có ghi Rocephin là chất gây dị ứng trong hồ sơ bệnh án của mình,” tài liệu của hội đồng y khoa ghi rõ. “Y tá trực hỏi [Bác sĩ Nguyễn] liệu có an toàn để cho [bệnh nhân] dùng Rocephin không. [Bác sĩ Nguyễn] nói với y tá rằng ông vừa nói chuyện với dược sĩ và Rocephin ‘an toàn để dùng’. Y tá đã ghi lại cuộc trò chuyện đó vào hồ sơ bệnh án của Bệnh nhân A.”

Khoảng mười lăm phút sau, theo báo cáo, y tá đã cho bệnh nhân dùng Rocephin. Ngay lập tức, bệnh nhân nói với y tá rằng bà cảm thấy không khỏe.

Người phụ nữ bắt đầu lên cơn co giật. Ngay sau đó, bà ngừng thở. Chỉ trong vài phút, bà đã chết.

“Việc [Bác sĩ Nguyễn] không nhận ra và không xử lý kịp thời tiền sử dị ứng/phản ứng bất lợi của bệnh nhân với Rocephin là một sai sót nghiêm trọng trong chăm sóc y tế, vi phạm nghiêm trọng tiêu chuẩn chăm sóc, là sự cẩu thả nghiêm trọng,” chuyên gia của hội đồng y tế kết luận.

Trong phiên điều trần của hội đồng, theo tài liệu, bác sĩ Nguyễn đã cố gắng đổ lỗi cho dược sĩ. “Tôi nghĩ tôi đã xác định được rằng tôi biết bệnh nhân bị dị ứng với Rocephin, và vì vậy tôi không hề không biết việc bệnh nhân bị dị ứng với Rocephin,” lời khai của bác sĩ Nguyen cho biết. “Khi y tá gọi cho tôi về vấn đề dị ứng, tôi nói vâng, nhưng dược sĩ và ban quản lý thuốc đã liên hệ trước đó và khuyến nghị chúng tôi chuyển sang dùng Rocephin. Vì vậy, tôi đã nói với y tá rằng nếu cô ấy có thắc mắc gì về điều đó, hãy hỏi dược sĩ.”

Ngày 5 tháng 2, hội đồng y tế tiểu bang đã đưa ra lời khiển trách công khai đối với bác sĩ Nguyen.

“Một khóa học giáo dục, khóa học về lưu giữ hồ sơ y tế, chương trình về tính chuyên nghiệp (khóa học đạo đức), chương trình đánh giá năng lực lâm sàng, giám sát thực hành và cấm hành nghề độc lập.

Ngoài lời khiển trách, bác sĩ Nguyen còn phải trả hơn 37.000 đô la phí.

Đài CBS 8 đã liên hệ với…

XIN XEM TIẾP: https://vietbao.com/a324504/s


 

Khi Titan cuối cùng cũng vẫy đuôi, Lawson bật khóc vì nhẹ nhõm.

Chau Le 

 Phó cảnh sát Lawson không hề có cảnh báo nào khi một tên chạy trốn bất ngờ lao ra từ trong tủ và xông tới anh với một con dao răng cưa.

Lưỡi dao nhắm thẳng vào cổ anh — một nhát đánh chí mạng.

Lawson không kịp phản ứng.

Nhưng người bạn K9 của anh, Titan, thì có.

Chú chó chăn cừu Đức nặng 85 pound (gần 39 kg) đã lao thẳng vào kẻ tấn công, đỡ nhát dao đâm sâu vào sườn mình — một đòn vốn dành cho Lawson.

Khi lực lượng hỗ trợ khống chế được nghi phạm, Titan gục xuống, máu chảy rất nhiều.

Lawson ôm chặt Titan vào lòng, bỏ qua mọi quy trình, lao thẳng đến bệnh viện thú y cấp cứu, còi hú inh ỏi, vừa ép vết thương vừa van nài:

“Đừng bỏ anh mà.”

Các bác sĩ thú y đã làm việc suốt ba tiếng để cầm máu nội tạng.

Lawson không rời nửa bước, thì thầm với chú chó đã cứu mạng anh.

Khi Titan cuối cùng cũng vẫy đuôi, Lawson bật khóc vì nhẹ nhõm.

Anh rời đi, biết rằng từng hơi thở của mình đều nhờ chú chó đang nằm hồi phục kia.

Nguồn: puppy surprise

No photo description available.


 

CHIẾN TUYẾN ẨN TÀNG – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

 Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Chính cái từ con người xuất ra, là cái làm cho con người ra ô uế!”.

“Chúng ta không bị ô uế bởi thế giới bên ngoài, nhưng bởi những gì chúng ta cho phép cư ngụ trong lòng mình!” – Fulton Sheen.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay bất ngờ dẫn chúng ta vào một ‘chiến tuyến ẩn tàng’: trái tim con người! Cũng một nơi, con người có thể ra ô uế; và cũng từ nơi ấy, con người có thể nên thánh thiện.

Tội nguyên tổ đã làm mất sự hài hoà ban đầu của các năng lực. Truyền thống gọi đó là dục vọng: không phải tội tự nó, nhưng là khuynh hướng nuông chiều về phía xác thịt hơn là về phía Thiên Chúa. Từ đó, một cuộc giao tranh lặng lẽ bắt đầu trong ‘chiến tuyến ẩn tàng’ này. Một ý nghĩ xấu được giữ lại; một tham vọng được nuôi dưỡng; một thoả hiệp nhỏ được biện minh. Sự dữ được dung dưỡng từ đó lớn lên; nó thường không ồn ào. Và khi lòng người trở thành nơi trú ngụ của ích kỷ, kiêu căng và ghen tị, bóng tối sẽ dần chiếm chỗ.

Nhưng Tin Mừng không chỉ cảnh báo mà còn mở ra hy vọng. Chúa Giêsu đã từng nói, “Nước Thiên Chúa ở trong anh em!”. Nếu sự dữ có thể bén rễ trong lòng, thì ân sủng cũng có thể nảy mầm từ đó. “Nếu Nước Trời ở trong lòng người, thì chiến tuyến không chạy qua quốc gia này hay tổ chức kia, mà cắt ngang trái tim – nơi mỗi người chọn sống cho mình hay sống cho tình yêu!” – Jean Vanier. Vấn đề không phải tôi đang ở hoàn cảnh nào, nhưng tôi đang ấp ủ điều gì trong lòng?

Salômon là một ví dụ. Ông có một khởi đầu tốt đẹp, được Thiên Chúa chúc phúc; nhưng dần dần, những liên minh và đam mê khiến ông chia sẻ lòng mình cho các thần ngoại. Sự sa sút không đến tức khắc; nó bắt đầu từ những nhượng bộ bên trong. Một đời rực rỡ có thể rạn nứt khi ‘chiến tuyến ẩn tàng’ nội tâm trở nên lỏng lẻo – bài đọc một. Các biệt phái cũng vấp ở đó. Họ lo rửa tay mà quên rửa lòng; sợ thức ăn làm ô uế, nhưng không sợ lòng dối gian. “Sẽ không có sự thanh khiết nơi hành động nếu nó phát xuất từ khát vọng được người đời công nhận, chứ không phải từ Thiên Chúa!” – Simone Weil.

Anh Chị em,

Trên chiến tuyến ấy, ai đã đứng vững đến cùng? Chúa Kitô! Trong sa mạc, Ngài không nuông chiều cám dỗ, không tìm vinh quang dễ dãi, không nắm quyền lực mà không cần thập giá. Ngài không thoả hiệp, không cho cám dỗ thắng nhưng chọn ý Cha thay vì ý mình. Suốt đời công khai, Ngài tiếp tục giữ trái tim trọn vẹn cho Cha; và trên thập giá, khi mọi sự tưởng như sụp đổ, Ngài vẫn phó thác. Nếu nơi chúng ta, chiến tuyến thường nghiêng về ích kỷ, thì nơi Ngài, nó được quyết định dứt khoát cho tình yêu. Vì thế, đời sống thiêng liêng không hệ tại việc tô điểm bề ngoài, nhưng là canh giữ nội tâm. Mỗi ngày, hoặc để một ý nghĩ xấu bén rễ, hoặc nhổ nó đi; hoặc tìm mình, hoặc tìm ý Chúa. Từ ‘chiến tuyến ẩn tàng’ ấy, con người hoặc ra ô uế, hoặc nên thánh thiện.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, khi con vờ thánh thiện, xin lột mặt nạ; khi con nuôi dưỡng bóng tối, xin phơi bày ngay; khi con tự bào chữa, xin đánh thức lương tâm!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

********************************************

Lời Chúa Thứ Tư, Tuần V Thường Niên, Năm Chẵn: 

Tin Mừng: Mc 7,14-23

Chính cái từ con người xuất ra, là cái làm cho con người ra ô uế.

✠ Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mác-cô.

14 Khi ấy, Đức Giê-su gọi đám đông tới mà bảo: “Xin mọi người nghe tôi nói đây, và hiểu cho rõ: 15 Không có cái gì từ bên ngoài vào trong con người lại có thể làm cho con người ra ô uế được; nhưng chính cái từ con người xuất ra, là cái làm cho con người ra ô uế. 16 Ai có tai nghe thì nghe!”

17 Khi Đức Giê-su đã rời đám đông mà vào nhà, các môn đệ hỏi Người về dụ ngôn ấy. 18 Người nói với các ông: “Cả anh em nữa, anh em cũng ngu tối như thế sao? Anh em không hiểu sao? Bất cứ cái gì từ bên ngoài vào trong con người, thì không thể làm cho con người ra ô uế, 19 bởi vì nó không đi vào lòng, nhưng vào bụng người ta, rồi bị thải ra ngoài?” Như vậy là Người tuyên bố mọi thức ăn đều thanh sạch. 20 Người nói: “Cái gì từ trong con người xuất ra, cái đó mới làm cho con người ra ô uế. 21 Vì từ bên trong, từ lòng người, phát xuất những ý định xấu: tà dâm, trộm cắp, giết người, 22 ngoại tình, tham lam, độc ác, xảo trá, trác táng, ganh tỵ, phỉ báng, kiêu ngạo, ngông cuồng. 23 Tất cả những điều xấu xa đó, đều từ bên trong xuất ra, và làm cho con người ra ô uế.”


 

Thánh Cô-lát-ti-ca (Scholastica), trinh nữ (480-543)-Cha Vương

Chúc Bạn một ngày bình an và tràn đầy hy vọng nhé. 

Cha Vương

Thư 3: 10/02/2026. (t5-22)

Hôm nay Giáo Hội mừng kính Thánh Cô-lát-ti-ca (Scholastica), trinh nữ (480-543). Ngài là quan thầy của các nữ tu và là đấng cầu giúp cho những ai chống lại bão và sấm sét.

      Anh em sinh đôi thường giống nhau về tính nết và tư tưởng cũng như nhiệt huyết. Do đó, người ta không ngạc nhiên khi Thánh Scholastica và người anh sinh đôi là Thánh Biển Ðức (Benedict), đều sáng lập các tu hội chỉ cách nhau có vài dặm.

       Sinh năm 480 trong một gia đình giầu có ở Norcia, Perugia, nước Ý. Scholastica và Benedict cùng lớn lên cho đến khi Benedict xa nhà đi học ở Rôma. Chúng ta không biết nhiều về thời niên thiếu của Thánh Scholastica. Sau này, ngài sáng lập dòng nữ tu ở Ý gần rặng Cassino, thuộc Plombariola, cách tu viện của anh ngài chỉ có năm dặm. Mỗi năm hai anh em chỉ gặp nhau có một lần, trong một nông trại, vì Scholastica không được phép vào tu viện. Cả hai dành thời giờ để thảo luận về các vấn đề tinh thần. Theo cuốn Ðối Thoại của Thánh Grêgôriô Cả, trong lần sau cùng hai anh em gặp nhau để cầu nguyện và truyện trò, Thánh Scholastica cảm thấy cái chết của mình gần kề nên nài xin anh Benedict ở với ngài cho đến ngày hôm sau. Thánh Benedict từ chối lời yêu cầu ấy vì ngài không muốn ở đêm bên ngoài tu viện, vì như thế chính ngài sẽ phá vỡ quy luật do ngài đặt ra. Thánh Scholastica xin Thiên Chúa cho phép anh mình ở lại, và một trận mưa lớn đổ xuống như thác khiến Benedict và các tu sĩ đi theo ngài không thể trở về tu viện. Thánh Benedict kêu lên, “Xin Chúa tha tội cho em. Em làm cái gì vậy?” Thánh Scholastica trả lời, “Em xin anh một ơn huệ và anh từ chối. Em xin Chúa, và Chúa nhận lời.” Ba ngày sau, ðang khi Thánh Benedict cầu nguyện trong tu viện thì ngài nhìn thấy linh hồn của em mình bay lên trời trong dạng chim bồ câu trắng. Thánh Benedict sai các tu sĩ đem xác của em mình về dòng và chôn trong chính ngôi mộ mà thánh nhân đã chuẩn bị cho mình. Thánh Scholastica từ trần vào khoảng năm 543, và sau đó không lâu Thánh Benedict cũng từ giã cõi đời. 

(Nguồn: Người Tín Hữu) 

Thánh Scholastica và Thánh Benedict đã giúp nhau đến gần Chúa hơn bằng cách họ đối xử với nhau. Theo gương các Ngài, những người thân yêu bạn hữu, thầy cô, v.v… của bạn đều có thể giúp Bạn trở nên gần với Chúa hơn mỗi ngày.

From Do Dzung

*****************************

Nên Thánh Giữa Đời – Xara Trần – (St: Sr Têrêsa)

 “Bẫy” 12 Giờ: Chiến Dịch “Hút Máu” Việt Kiều Dưới Nhãn Mác An Ninh?

Xuan Ly is with Phaolô Hiển Nguyễn 

 “Bẫy” 12 Giờ: Chiến Dịch “Hút Máu” Việt Kiều Dưới Nhãn Mác An Ninh?

Quy định buộc Việt kiều phải khai báo tạm trú trong vòng 12 giờ cùng mức phạt “cắt cổ” lên đến 20 triệu đồng đang lộ rõ là một nước cờ kinh tế đầy toan tính. Đây không đơn thuần là quản lý hành chính, mà là một “thuế nhớ nước” được dàn dựng công phu để tận thu nguồn ngoại tệ sống.

Khi Sự Mệt Mỏi Trở Thành “Mỏ Vàng”

Tại sao lại là con số 12 giờ cực đoan? Sau một chuyến bay vắt kiệt sức lực, ai cũng cần nghỉ ngơi. Chính cái khoảng thời gian “ngơ ngác” vì lệch múi giờ ấy là lúc cái bẫy sập xuống. Chỉ cần gia đình lơ là, một biên bản phạt bằng cả tháng lương sẽ được chìa ra ngay lập tức. Đây là chiến lược “tận thu trên sự sơ hở”, biến niềm vui đoàn viên thành nỗi lo sợ bị rình rập.

Thông Điệp Ngầm: “Gửi Tiền Về, Thân Đừng Về”

Nhiều người tin rằng đây là một phần của thuyết âm mưu nhằm tối ưu hóa nguồn thu mà không cần phục vụ:

  • Hành chính hóa sự phiền hà: Thủ tục rắc rối khiến kiều bào nản lòng. Thông điệp ẩn ý rất rõ ràng: “Chúng tôi cần đô-la của các bạn, nhưng không mặn mà với sự hiện diện của các bạn.”
  • Cánh tay nối dài của ngân sách: Biến mỗi chủ nhà thành một “cai ngục” tự nguyện vì sợ phạt. Sự “rực rỡ” của thời đại này chính là biến tình thân thành công cụ để bào tiền một cách hợp pháp.

Về quê ăn Tết mà cứ như đi “trốn nã”, vừa xuống sân bay đã phải lo chạy ra phường trước khi bị “vặt lông”. Phải chăng đây chính là chiến dịch “giữ chân kiều bào ở lại hải ngoại” để họ chỉ việc ngồi yên và chuyển tiền về cho an toàn?

Le Anh

May be an image of text that says 'EATONONE NENCO NENCOICINE EATON EATONSIEI hML Chiến Dịch "Bào" Việt Kiều: Khi Tình Quê Hương Có Giá 20 Triệu!'


 

KHIÊM TỐN, BẢN NGÃ VÀ CAO CẢ – Rev. Ron Rolheiser, OMI

Rev. Ron Rolheiser, OMI

Đối với đa số chúng ta, tôi ngờ rằng chữ bản ngã có một nghĩa tiêu cực.  Kết án ai có bản ngã to là kết án họ quá tin vào họ, tự thổi phồng, tự cao và thiếu khiêm tốn.  Lúc nào chúng ta cũng cho bản ngã và khiêm tốn là ngược nhau.  Có bản ngã to là không khiêm tốn.

 Nhưng điều này có vẻ đơn giản và sai.  Có bản ngã mạnh và lớn không nhất thiết là xấu.  Đúng ra, đó là một điều cần thiết, đặc biệt khi chúng ta thực hiện một cái gì có giá trị.  Không một ai làm một cái gì lớn mà không có bản ngã mạnh, và điều này không có nghĩa là họ không khiêm tốn.Ví dụ: 

Ít ai nghĩ mẹ Têrêxa có bản ngã lớn.  Khi nghĩ về mẹ, chúng ta nghĩ đó là một người khiêm tốn bẩm sinh.  Nhưng, rõ ràng, mẹ có một bản ngã khổng lồ, một hình ảnh tự hào rất mạnh, cho phép mẹ đứng thẳng trước toàn cầu để xác quyết chân lý, xác quyết mẹ có giá trị và tin chắc tầm quan trọng của mẹ.  Mẹ có thể đứng trước bất cứ ai trên thế giới và cho họ biết con người của mẹ và lời nói của mẹ là quan trọng.  Phải có một bản ngã rất mạnh mới làm được điều này, bản ngã của họ mạnh hơn bản ngã của đa số chúng ta.  Mẹ ý thức mẹ là khí cụ duy nhất và được Chúa chúc phúc trong thế giới này, mẹ đủ yên tâm để hành động.

 Dù vậy mẹ lại khiêm tốn.  Lúc nào mẹ cũng ý thức rằng những điều làm mẹ trở nên duy nhất, cá biệt và vững mạnh không bao giờ xuất phát từ bản thân mẹ mà đến từ Thiên Chúa.  Mẹ chỉ là một băng tần của quyền năng và ân sủng của một ai đó.  Mẹ có một bản ngã khổng lồ nhưng mẹ không ích kỷ.  Mẹ không bao giờ chứa đầy cái tôi, mẹ chỉ chứa đầy Thiên Chúa.

 Người ta cũng có thể nói như vậy với đức giáo hoàng Gio-an Phao-lô II: ngài khiêm tốn nhưng rõ ràng ngài có một bản ngã cũng khổng lồ.  Ngài có thể đứng trước hàng triệu người, giang tay ra và nói: “Cha thương các con!” (Với cả hệ luận đi kèm?), “Và quan trọng là các con phải nghe cha!”  Bản ngã của ngài phải rất mạnh mới nói được như vậy.  Đa số chúng ta sẽ run khi làm như vậy.  Chúng ta sẽ bị khống chế bởi hàng trăm rào cản nội tâm, chúng làm chúng ta tê liệt với các câu: “Bạn nghĩ bạn là ai mà nói như vậy!  Ai cho bạn có quyền nghĩ rằng cả thế giới muốn nghe bạn nói bạn thương họ?”

 Thêm một lần nữa, cũng giống như mẹ Têrêxa, đức giáo hoàng Gio-an Phao-lô II cũng sẽ nói  như vậy và ngài vẫn khiêm tốn, vì ngài biết rõ, những gì tạo nên ngài là người duy nhất, ân sủng không đến từ ngài và thuộc về ngài.  Ngài chỉ là băng tần.  Ngài có thể tiếp cận tầm cao cả và tự nhiên với tầm cao cả này, nhưng ngài không tự cho mình là cao cả và đòi hỏi tầm cao cả này cho riêng mình.  Đó là khác biệt giữa khiêm tốn và cao cả, giữa cao lớn và ích kỷ.  Một người ích kỷ có thể tiếp cận cao cả, nhưng khác với các vị thánh, người ích kỷ lấy bản sắc mình ở đó và cho rằng tự mình làm nên chuyện cao cả này.

 Về mặt thiêng liêng, chung chung người ta khó chấp nhận tầm quan trọng của bản ngã và thường chối bỏ thẳng thừng vai trò của bản ngã trên tầm cao cả, đặc biệt là tầm cao cả thiêng liêng.  Cách này cách khác, chúng ta không chấp nhận các thánh như thánh Phanxicô Assisi, Têrêxa Avila, Gioan Thánh Giá, Têrêxa Hài Đồng là những người có bản ngã khổng lồ – những người có niềm tự phụ lớn, nghĩ rằng họ là những người quan trọng đặc biệt.  Thay vào đó, chúng ta thường phản chiếu lên họ một hình ảnh sai về khiêm tốn, mà đối với họ thì không đúng và làm chúng ta tổn thương. 

Nó làm chúng ta tổn thương, vì đa số chúng ta, vấn đề lớn nhất trong đời sống chúng ta, kể cả đời sống thiêng liêng, chính là bản ngã của chúng ta quá yếu.  Chúng ta mang một hình ảnh quá yếu đến mức không cho phép chúng ta làm một cái gì thật sự lớn hoặc đúng để trải rộng tình thương và lòng nhiệt thành.

 Bởi vì hình ảnh chúng ta quá yếu, không giống như mẹ Têrêxa và đức giáo hoàng Gioan Phaolô II, chúng ngăn không cho chúng ta mở rộng lòng ra, nói lên chân lý và tình yêu đích thực của chúng ta.  Chúng ta có quá nhiều tiếng nói bên trong (chắc chắn nguồn gốc của nó là từ những tiếng nói bên ngoài) làm chúng ta bị tê liệt với những câu nói thường lệ: “Bạn nghĩ bạn là ai!  Đúng là tự hào và kiêu hãnh!  Đúng là bản ngã!  Bạn chưa có năng khiếu hoặc chưa giỏi để làm!  Không ai cần đến bạn!” 

Như thế, không phải vì bản ngã chúng ta mạnh nhưng vì nó yếu nên chúng ta mới cần bảo vệ nó.  Chúng ta chiến đấu để trở nên yếu mềm, chứ không phải chiến đấu để thành hoang tưởng và bảo vệ chúng ta.  Tại sao?  Chính xác vì chúng ta không đủ tự tin bên trong, vì bản ngã và niềm tự tin của chúng ta lung lay.  Thánh Phanxicô Assisi, Têrêxa Avila, Gioan Thánh Giá, Têrêxa Hài Đồng không bao giờ cần tự bảo vệ họ.  Họ đủ yên tâm để tỏ ra yếu mềm.  Họ có bản ngã vững mạnh.

 Chúng ta nên luôn luôn biết mệt về tính kiêu căng và ích kỷ.  Tuy nhiên, khiêm tốn giả tạo không làm cho chúng ta tránh được kiêu căng.  Thay vào đó, nó ngăn cản chúng ta đến với  nhiệt thành, yêu thương và những điều cao cả.

 Rev. Ron Rolheiser, OMI

From: Langthangchieutim