TÔI VẪN ĐIẾC – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

 Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Ephphata, hãy mở ra!”.

“Có nhiều lý do khiến Chúa không nên gọi bạn… Satan nói, ‘Bạn không xứng đáng!’; Giêsu nói, ‘Vậy thì đã sao?’. Ngài là Đấng tháo cởi, đầy tha thứ!” – Paul Cho Yonggi.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay không chỉ kể chuyện một người câm điếc được chữa lành, nhưng chạm đến nơi sâu nhất của mỗi chúng ta: Thiên Chúa – Đấng tháo cởi – vẫn nói, vẫn chạm, vẫn mở; chỉ có điều, giữa bao tiếng ồn và tự ái, ‘tôi vẫn điếc!’.

Điếc không phải vì Chúa im lặng, nhưng vì chúng ta quen nghe mình hơn nghe Chúa. Thánh Vịnh đáp ca nhắc, “Ta là Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hãy nghe Ta răn bảo!”. Lời không thiếu; chỉ thiếu một trái tim mở. Salômôn đã từng xin một “tâm hồn biết lắng nghe”, nhưng rồi để lòng mình chia năm xẻ bảy; và khi người lãnh đạo không còn nghe Lời, vương quốc ắt xé thành nhiều mảnh – bài đọc một. “Vấn đề không nằm ở việc Thiên Chúa không nói, mà là tôi không còn nghe!” – Ermes Ronchi.

“Không còn nghe” được gọi là “điếc thiêng liêng”. Điếc thiêng liêng nguy hiểm ở chỗ nó rất đạo đức. Chúng ta có thể nói nhiều về Chúa, mà không thực sự để Ngài chạm tới những vùng cứng nhất. Chúng ta có thể hát rất to, nhưng không nghe tiếng rên của người nghèo, của gia đình mình, của chính lương tâm đang khát. Đó là một thứ điếc khiến chúng ta không còn xao động; không còn đỏ mặt vì tội; không còn run lên vì Lời. “Mỗi ngày thức dậy, hãy tự hỏi: tôi có còn biết lắng nghe? Tôi có để mình bị đánh động bởi nỗi đau của người khác? Hay tôi đã quen nghe chính mình?” – Phanxicô.

Vì khi tim đã chai, miệng sẽ nói những điều trống rỗng; khi tim không mở, tai có nghe cũng chỉ là âm thanh lướt qua, và ‘tôi vẫn điếc!’. Nhưng nếu mở lòng, tràn đầy Chúa Kitô, chúng ta không thể không làm chứng cho Ngài. Một khi tim mở, miệng sẽ mở; một khi tim mềm, đời sống sẽ nói thay. Không bằng những diễn văn dài, nhưng bằng một chọn lựa ngay thẳng, một sự trung tín âm thầm, một thái độ biết lắng nghe người khác. “Chúa Giêsu không chỉ mở miệng người câm, mà còn muốn mở tâm hồn bạn!” – Robert Barron.

Anh Chị em,

Chúa Giêsu thì khác. Ngài luôn nghe Cha. Giữa đám đông ồn ào, Ngài vẫn nghe Cha; giữa chống đối và nhục hình, Ngài vẫn nghe Cha; và trên thập giá, trong thinh lặng dày đặc, Ngài không ngừng hướng về Cha. Chính vì luôn nghe, Ngài mới có thể nghe tiếng kêu của các linh hồn và trao ban chính mình. Con Một không điếc trước Cha, để nhân loại không còn điếc trước tình yêu. Từ thập giá, Ngài không chỉ kêu “Ta khát”, nhưng còn nghe cơn khát của các linh hồn. Đó là một trái tim không điếc, một Người Con luôn ở trong tương quan sống động với Cha. “Hãy mở ra!”, lời ấy hôm nay không chỉ dành cho đôi tai, nhưng cho cả những vùng tối nhất nơi chúng ta. Nếu dám thừa nhận mình điếc, chúng ta sẽ được chạm; nếu dám để Ngài chạm, chúng ta sẽ được mở.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin mở tai con trước khi con chỉ biết nói; xin mở tim con trước khi con chỉ nghĩ về mình; ‘cho con nghe Cha như Con đã nghe Cha’, ngay cả dưới bóng thập giá!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

*********************************************

Lời Chúa Thứ Sáu, Tuần V Thường Niên, Năm Chẵn

Đức Giê-su làm cho kẻ điếc nghe được, và kẻ câm nói được.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mác-cô.     Mc 7,31-37

31 Khi ấy, Đức Giê-su bỏ vùng Tia, đi qua ngả Xi-đôn, đến biển hồ Ga-li-lê vào miền Thập Tỉnh. 32 Người ta đem một người vừa điếc vừa ngọng đến với Đức Giê-su, và xin Người đặt tay trên anh. 33 Người kéo riêng anh ta ra khỏi đám đông, đặt ngón tay vào lỗ tai anh, và nhổ nước miếng mà bôi vào lưỡi anh. 34 Rồi Người ngước mắt lên trời, thở dài và nói : Ép-pha-tha, nghĩa là : hãy mở ra ! 35 Lập tức tai anh ta mở ra, lưỡi như hết bị buộc lại. Anh ta nói được rõ ràng. 36 Đức Giê-su cấm họ không được kể chuyện đó với ai cả. Nhưng Người càng cấm, họ càng đồn ra. 37 Họ hết sức kinh ngạc, và nói : “Ông ấy làm việc gì cũng tốt đẹp cả : ông làm cho kẻ điếc nghe được, và kẻ câm nói được.”


 

TINH TÚY CỦA LỀ LUẬT – Pt Giuse Trần Văn Nhật

Pt Giuse Trần Văn Nhật

Trong năm 1998, tờ Washington Post có đăng một câu chuyện của Mục Sư Daniel Crocker sống ở ngoại ô Virginia.  Ông làm quản lý một kho hàng nên đời sống khá tươm tất, nhưng ông không thực sự hạnh phúc bởi vì lương tâm của ông vẫn bị ray rứt bởi một điều bí ẩn, đó là mười chín năm trước, ông đã giết một phụ nữ ở Kansas tên là Tracy Fresquez và người ta không tìm ra thủ phạm.

 Tuy vụ án đã chìm vào quên lãng nhưng ông Daniel không thể quên được.  Sau cùng, ông trở về với Thiên Chúa để xin ơn tha thứ và trở nên một Kitô Hữu.  Ông lập gia đình, có hai con và ngày càng lớn lên trong đức tin và chính ông trở thành một mục sư trong Giáo Hội Tin Lành.  Tuy vậy, ông vẫn không đủ can đảm để trình diện với nhà chức trách về tội ác ghê tởm mà ông đã phạm mười chín năm trước đây.

 Mục Sư Daniel làm tuyên uý nhà tù và một ngày kia sau khi thi hành công tác mục vụ ở nhà tù về, ông tiết lộ bí mật đó với vợ ông, bà Nicolette.  Sau đó hai người bàn tính việc thú tội với nhà chức trách ở Kansas.  Điều khó khăn nhất cho ông là phải nói thế nào với hai con nhỏ của ông, một đứa chín tuổi và một đứa tám tuổi, về việc từ giã các con để đi tù.

 Đến ngày ra đi, các con ông khóc nức nở, nài nỉ ông đừng đi, và ông nói: “Bố phải trình diện thú tội.  Vì nếu bố dậy các con phải sống Lời Chúa mà bố lại không thi hành thì bố là người giả hình.”  (trích và dịch trong Prison Fellowship Ministries).

Câu chuyện này, nói chung, đưa đến hai phản ứng khác nhau của người nghe.  Có người khâm phục Mục Sư Daniel vì đã can đảm sống đức tin của mình, nhưng cũng có người cho là ông đã dại dột ra trình diện để bị tù, bởi vì tội giết người của ông đã chìm vào quên lãng.  Hai phản ứng này tiêu biểu cho những người có đức tin vào Thiên Chúa là Đấng vô cùng nhân hậu nhưng cũng vô cùng công bằng, và những người không tin có sự sống bất diệt ở đời sau nên cũng không có Đấng nào để xét xử.

 Xã hội loài người cần có các luật lệ để điều hòa trật tự trong xã hội.  Trong Do Thái Giáo và Kitô Giáo có Mười Điều Răn để hướng dẫn đời sống con người nói chung, nhưng vì ảnh hưởng của tội nguyên thủy nên con người không thể làm chủ chính mình, do đó trong Do Thái Giáo, họ còn viết ra hàng trăm điều luật để hướng dẫn tín hữu.  Giáo Hội Công Giáo cũng có bộ Giáo Luật để hướng dẫn đời sống giáo dân.  Chúa Giêsu cũng xác nhận sự cần thiết của lề luật, “Đừng nghĩ rằng Thầy đến để phá bỏ lề luật hay lời các ngôn sứ.  Thầy đến không phải để bác bỏ nhưng để kiện toàn” (c. 17).

 Chúa Giêsu đã kiện toàn lề luật như thế nào?  Qua bài phúc âm hôm nay, chúng ta thử đưa ra một vài điểm của lề luật để có thể áp dụng vào đời sống theo tinh thần của Chúa Giêsu. 

Trước hết, chúng ta cần nhìn thấy lý do sâu xa của lề luật.  Thí dụ, lý do của luật đi đường là giữ an toàn cho mọi người, nhưng người vượt đèn đỏ gây tai nạn bởi vì họ chỉ nhìn thấy đèn xanh đỏ và không có bóng dáng cảnh sát, chứ họ không nghĩ đến sự an toàn là lý do chính của luật. 

Hoặc Giáo Hội kêu gọi chúng ta tham dự Thánh Lễ Chúa Nhật với hy vọng là qua các bài đọc, bài giảng, nghi thức phụng vụ, chúng ta sẽ thay đổi lối sống của mình ngày càng tốt hơn, chứ đừng cho rằng các hình thức đạo đức bên ngoài là đã chu toàn bổn phận của một tín hữu Kitô.

Chúa Giêsu đã cảnh cáo các môn đệ ngày xưa, và gián tiếp cảnh cáo chúng ta ngày nay về thái độ đạo đức bề ngoài, “Nếu sự công chính của anh [chị] em không trổi vượt hơn các kinh sư và Biệt Phái, anh [chị] em sẽ không vào được Nước Trời.”  Các kinh sư và Biệt Phái là những người tuân giữ lề luật rất cặn kẽ, họ giảng dạy người khác về luật của Chúa nhưng họ không thay đổi đời sống theo tinh túy của lề luật.  Vì thế Chúa nói, “Hãy thi hành và tuân giữ mọi điều họ nói với anh em, nhưng đừng theo gương của họ.  Vì họ giảng dạy nhưng họ không thực hành” (Mt 23:3).  Nói cách khác, nếu chúng ta chỉ chú ý đến các hình thức đạo đức bên ngoài thì Kitô Giáo sẽ chẳng ích lợi gì cho chúng ta. 

Khi không thấy được lý do sâu xa của luật lệ, người ta sẽ coi luật lệ của Hội Thánh là một cản trở sự tự do của con người.  Thực tế là việc chuẩn bị hôn nhân.  Giáo Hội yêu cầu các đôi nam nữ phải trải qua sự chuẩn bị này trước khi kết hôn với hy vọng là họ sẽ được chuẩn bị kỹ lưỡng trước khi bước vào một đời sống mà chắc chắn sẽ có nhiều khó khăn.  Rất tiếc, nhiều người coi đó như một gánh nặng của lề luật nên họ tìm cách tránh né hoặc thi hành cách hời hợt. 

Điểm thứ hai là chúng ta cần để ý đến động lực của hành động.  Việc giết người có thể phát sinh từ động lực là sự tức giận.  Chúa nói, “ai tức giận anh em mình thì đáng bị luận phạt.”  Chỉ tức giận thôi, chưa cần phải giết người thì cũng đã bị lên án.  Điểm chính là Chúa muốn chúng ta ngăn chặn hành động xấu xa ngay từ bên trong tâm hồn, bởi vì người ta có thể giết người không cần gươm giáo, súng đạn mà bằng những âm mưu thâm độc. 

Tương tự như vậy đối với tội ngoại tình.  Chúa nói, “Ai nhìn người đàn bà với sự thèm muốn thì đã ngoại tình với người ấy trong tâm hồn.”  Chúa Giêsu nhìn đến trọng tâm của hôn nhân là tình yêu.  Nếu vợ chồng không kềm hãm động lực của ngoại tình là sự thèm muốn, hậu quả là gia đình sẽ tan vỡ vì tình yêu vợ chồng không còn nguyên vẹn, đằm thắm như trước. 

Điểm cuối cùng là sống ngay thẳng.  Chúa dạy chúng ta, “Có thì nói có, không thì nói không.  Mọi sự thêm bớt là từ ác quỷ.”  Có lẽ đây là điểm khó khăn nhất cho chúng ta, những người muốn theo Chúa Kitô mà phải sống trong một xã hội tân tiến, dồi dào tiện nghi nên sinh ra nhiều cám dỗ đủ mọi loại – giầu sang, danh vọng, chức quyền, v.v…, và rồi chúng ta buông xuôi, sống trôi nổi theo dòng đời.

 Điều nguy hiểm khi sống không ngay thẳng là lương tâm của chúng ta không còn đúng đắn theo các lời khuyên của Chúa trong Phúc Âm, và thay vì trở nên “muối cho đời, và ánh sáng cho thế gian”, thay vì đem đạo vào đời, chúng ta lại đưa đời vào đạo trong các đoàn thể, các sinh hoạt đạo đức trong nhà thờ.  Như thế, những công việc phục vụ Giáo Hội và tha nhân, thay vì giúp chúng ta thấy được ý nghĩa của đời sống và rèn luyện bản thân, nó có thể trở nên cơ hội để kiếm danh vọng, địa vị, để được tiếng khen là đạo đức mà những cám dỗ ấy quá mạnh đến độ chúng ta không còn ngay thẳng, không còn chính trực trong lối đối xử. 

Tóm lại, luật lệ, nói chung, để đem lại hạnh phúc cho con người, và Chúa Giêsu đã kiện toàn lề luật bằng cách nêu cao mục đích sâu xa của lề luật, đó là để giúp chúng ta có được hạnh phúc đích thực mà hạnh phúc đó không do bởi thỏa mãn dục vọng, hay ý muốn riêng của mình nhưng bởi làm chủ được con người của mình. 

Con người được dựng nên theo hình ảnh và giống như Thiên Chúa, và một trong những điểm quan trọng là sự tự do.  Thiên Chúa có tự do hành động thì loài người cũng được tự do lựa chọn.  Trong cuộc sống hàng ngày, hầu như lúc nào chúng ta cũng phải lựa chọn, đúng như bài đọc I hôm nay đã nói, “Trước mặt con người là sự sống và sự chết, sự lành và sự dữ, ai thích điều gì thì sẽ được điều đó…  Nếu con chọn tuân giữ các giới răn, các giới răn đó sẽ giải thoát con.”  (Dịch theo New American Bible, Revised Edition – Sir. 15:15-17).  Thánh Vịnh Đáp Ca hôm nay cũng nói, “Phúc cho ai tuân giữ mệnh lệnh của Thiên Chúa!”  Cầu mong sao chúng ta thấy được tinh túy của lề luật và can đảm vâng phục.

 Pt Giuse Trần Văn Nhật

From: Langthangchieutim


 

San Diego: sơ xuất làm chết bệnh nhân, bác sĩ Nguyen bị khiển trách, phạt trả phí hơn 37.000 đô la

Hai Phan

San Diego: sơ xuất làm chết bệnh nhân, bác sĩ Nguyen bị khiển trách, phạt trả phí hơn 37.000 đô la

LA MESA, California (VB) — Một bác sĩ gốc Việt ở La Mesa (quận San Diego, California) đã bị khiển trách công khai vì đã kê đơn thuốc cho một bệnh nhân có tiền sử dị ứng, dẫn đến cái chết của bệnh nhân này, theo bản tin đài CBS 8.

Theo tài liệu của Hội đồng Y khoa, bác sĩ Dat William Nguyen đang điều trị cho một phụ nữ 72 tuổi tại Trung tâm Y tế Alvarado cũ ở La Mesa vì khó thở. Người phụ nữ này mắc bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính (COPD: chronic obstructive pulmonary disease) và tâm thần phân liệt (schizophrenia), đã đến bệnh viện vào ngày 19 tháng 10 năm 2022.

Bác sĩ Nguyen đã cố gắng kê đơn thuốc Rocephin để giúp điều trị bệnh viêm phổi của người phụ nữ. Một cảnh báo y tế hiện lên khi bác sĩ Nguyễn cố gắng cho bệnh nhân uống thuốc, báo hiệu rằng bệnh nhân bị dị ứng với thuốc đó. Theo hội đồng y khoa, bác sĩ Nguyễn đã không mở thông báo cảnh báo mà vẫn kê đơn thuốc khác.

Khi đang lái xe về nhà, cuộc điều tra của hội đồng y khoa cho biết dược sĩ của bệnh viện đã gửi cho ông một tin nhắn. Theo biên bản kỷ luật của hội đồng y khoa, dược sĩ đã khuyên bác sĩ Nguyễn chuyển lại dùng Rocephin, nói rằng tác dụng phụ duy nhất đối với bệnh nhân là lo lắng và có thể ngất xỉu.

Bác sĩ Nguyễn đã đổi thuốc trở lại Rocephin. Vài phút sau, y tá của bệnh nhân đọc hồ sơ bệnh án và gọi điện cho bác sĩ để báo về tình trạng dị ứng của bệnh nhân.

“Trong cuộc gọi điện thoại đó, bị cáo đã nói với y tá trực rằng ông biết [bệnh nhân] có ghi Rocephin là chất gây dị ứng trong hồ sơ bệnh án của mình,” tài liệu của hội đồng y khoa ghi rõ. “Y tá trực hỏi [Bác sĩ Nguyễn] liệu có an toàn để cho [bệnh nhân] dùng Rocephin không. [Bác sĩ Nguyễn] nói với y tá rằng ông vừa nói chuyện với dược sĩ và Rocephin ‘an toàn để dùng’. Y tá đã ghi lại cuộc trò chuyện đó vào hồ sơ bệnh án của Bệnh nhân A.”

Khoảng mười lăm phút sau, theo báo cáo, y tá đã cho bệnh nhân dùng Rocephin. Ngay lập tức, bệnh nhân nói với y tá rằng bà cảm thấy không khỏe.

Người phụ nữ bắt đầu lên cơn co giật. Ngay sau đó, bà ngừng thở. Chỉ trong vài phút, bà đã chết.

“Việc [Bác sĩ Nguyễn] không nhận ra và không xử lý kịp thời tiền sử dị ứng/phản ứng bất lợi của bệnh nhân với Rocephin là một sai sót nghiêm trọng trong chăm sóc y tế, vi phạm nghiêm trọng tiêu chuẩn chăm sóc, là sự cẩu thả nghiêm trọng,” chuyên gia của hội đồng y tế kết luận.

Trong phiên điều trần của hội đồng, theo tài liệu, bác sĩ Nguyễn đã cố gắng đổ lỗi cho dược sĩ. “Tôi nghĩ tôi đã xác định được rằng tôi biết bệnh nhân bị dị ứng với Rocephin, và vì vậy tôi không hề không biết việc bệnh nhân bị dị ứng với Rocephin,” lời khai của bác sĩ Nguyen cho biết. “Khi y tá gọi cho tôi về vấn đề dị ứng, tôi nói vâng, nhưng dược sĩ và ban quản lý thuốc đã liên hệ trước đó và khuyến nghị chúng tôi chuyển sang dùng Rocephin. Vì vậy, tôi đã nói với y tá rằng nếu cô ấy có thắc mắc gì về điều đó, hãy hỏi dược sĩ.”

Ngày 5 tháng 2, hội đồng y tế tiểu bang đã đưa ra lời khiển trách công khai đối với bác sĩ Nguyen.

“Một khóa học giáo dục, khóa học về lưu giữ hồ sơ y tế, chương trình về tính chuyên nghiệp (khóa học đạo đức), chương trình đánh giá năng lực lâm sàng, giám sát thực hành và cấm hành nghề độc lập.

Ngoài lời khiển trách, bác sĩ Nguyen còn phải trả hơn 37.000 đô la phí.

Đài CBS 8 đã liên hệ với…

XIN XEM TIẾP: https://vietbao.com/a324504/s


 

Khi Titan cuối cùng cũng vẫy đuôi, Lawson bật khóc vì nhẹ nhõm.

Chau Le 

 Phó cảnh sát Lawson không hề có cảnh báo nào khi một tên chạy trốn bất ngờ lao ra từ trong tủ và xông tới anh với một con dao răng cưa.

Lưỡi dao nhắm thẳng vào cổ anh — một nhát đánh chí mạng.

Lawson không kịp phản ứng.

Nhưng người bạn K9 của anh, Titan, thì có.

Chú chó chăn cừu Đức nặng 85 pound (gần 39 kg) đã lao thẳng vào kẻ tấn công, đỡ nhát dao đâm sâu vào sườn mình — một đòn vốn dành cho Lawson.

Khi lực lượng hỗ trợ khống chế được nghi phạm, Titan gục xuống, máu chảy rất nhiều.

Lawson ôm chặt Titan vào lòng, bỏ qua mọi quy trình, lao thẳng đến bệnh viện thú y cấp cứu, còi hú inh ỏi, vừa ép vết thương vừa van nài:

“Đừng bỏ anh mà.”

Các bác sĩ thú y đã làm việc suốt ba tiếng để cầm máu nội tạng.

Lawson không rời nửa bước, thì thầm với chú chó đã cứu mạng anh.

Khi Titan cuối cùng cũng vẫy đuôi, Lawson bật khóc vì nhẹ nhõm.

Anh rời đi, biết rằng từng hơi thở của mình đều nhờ chú chó đang nằm hồi phục kia.

Nguồn: puppy surprise

No photo description available.


 

CHIẾN TUYẾN ẨN TÀNG – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

 Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Chính cái từ con người xuất ra, là cái làm cho con người ra ô uế!”.

“Chúng ta không bị ô uế bởi thế giới bên ngoài, nhưng bởi những gì chúng ta cho phép cư ngụ trong lòng mình!” – Fulton Sheen.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay bất ngờ dẫn chúng ta vào một ‘chiến tuyến ẩn tàng’: trái tim con người! Cũng một nơi, con người có thể ra ô uế; và cũng từ nơi ấy, con người có thể nên thánh thiện.

Tội nguyên tổ đã làm mất sự hài hoà ban đầu của các năng lực. Truyền thống gọi đó là dục vọng: không phải tội tự nó, nhưng là khuynh hướng nuông chiều về phía xác thịt hơn là về phía Thiên Chúa. Từ đó, một cuộc giao tranh lặng lẽ bắt đầu trong ‘chiến tuyến ẩn tàng’ này. Một ý nghĩ xấu được giữ lại; một tham vọng được nuôi dưỡng; một thoả hiệp nhỏ được biện minh. Sự dữ được dung dưỡng từ đó lớn lên; nó thường không ồn ào. Và khi lòng người trở thành nơi trú ngụ của ích kỷ, kiêu căng và ghen tị, bóng tối sẽ dần chiếm chỗ.

Nhưng Tin Mừng không chỉ cảnh báo mà còn mở ra hy vọng. Chúa Giêsu đã từng nói, “Nước Thiên Chúa ở trong anh em!”. Nếu sự dữ có thể bén rễ trong lòng, thì ân sủng cũng có thể nảy mầm từ đó. “Nếu Nước Trời ở trong lòng người, thì chiến tuyến không chạy qua quốc gia này hay tổ chức kia, mà cắt ngang trái tim – nơi mỗi người chọn sống cho mình hay sống cho tình yêu!” – Jean Vanier. Vấn đề không phải tôi đang ở hoàn cảnh nào, nhưng tôi đang ấp ủ điều gì trong lòng?

Salômon là một ví dụ. Ông có một khởi đầu tốt đẹp, được Thiên Chúa chúc phúc; nhưng dần dần, những liên minh và đam mê khiến ông chia sẻ lòng mình cho các thần ngoại. Sự sa sút không đến tức khắc; nó bắt đầu từ những nhượng bộ bên trong. Một đời rực rỡ có thể rạn nứt khi ‘chiến tuyến ẩn tàng’ nội tâm trở nên lỏng lẻo – bài đọc một. Các biệt phái cũng vấp ở đó. Họ lo rửa tay mà quên rửa lòng; sợ thức ăn làm ô uế, nhưng không sợ lòng dối gian. “Sẽ không có sự thanh khiết nơi hành động nếu nó phát xuất từ khát vọng được người đời công nhận, chứ không phải từ Thiên Chúa!” – Simone Weil.

Anh Chị em,

Trên chiến tuyến ấy, ai đã đứng vững đến cùng? Chúa Kitô! Trong sa mạc, Ngài không nuông chiều cám dỗ, không tìm vinh quang dễ dãi, không nắm quyền lực mà không cần thập giá. Ngài không thoả hiệp, không cho cám dỗ thắng nhưng chọn ý Cha thay vì ý mình. Suốt đời công khai, Ngài tiếp tục giữ trái tim trọn vẹn cho Cha; và trên thập giá, khi mọi sự tưởng như sụp đổ, Ngài vẫn phó thác. Nếu nơi chúng ta, chiến tuyến thường nghiêng về ích kỷ, thì nơi Ngài, nó được quyết định dứt khoát cho tình yêu. Vì thế, đời sống thiêng liêng không hệ tại việc tô điểm bề ngoài, nhưng là canh giữ nội tâm. Mỗi ngày, hoặc để một ý nghĩ xấu bén rễ, hoặc nhổ nó đi; hoặc tìm mình, hoặc tìm ý Chúa. Từ ‘chiến tuyến ẩn tàng’ ấy, con người hoặc ra ô uế, hoặc nên thánh thiện.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, khi con vờ thánh thiện, xin lột mặt nạ; khi con nuôi dưỡng bóng tối, xin phơi bày ngay; khi con tự bào chữa, xin đánh thức lương tâm!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

********************************************

Lời Chúa Thứ Tư, Tuần V Thường Niên, Năm Chẵn: 

Tin Mừng: Mc 7,14-23

Chính cái từ con người xuất ra, là cái làm cho con người ra ô uế.

✠ Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mác-cô.

14 Khi ấy, Đức Giê-su gọi đám đông tới mà bảo: “Xin mọi người nghe tôi nói đây, và hiểu cho rõ: 15 Không có cái gì từ bên ngoài vào trong con người lại có thể làm cho con người ra ô uế được; nhưng chính cái từ con người xuất ra, là cái làm cho con người ra ô uế. 16 Ai có tai nghe thì nghe!”

17 Khi Đức Giê-su đã rời đám đông mà vào nhà, các môn đệ hỏi Người về dụ ngôn ấy. 18 Người nói với các ông: “Cả anh em nữa, anh em cũng ngu tối như thế sao? Anh em không hiểu sao? Bất cứ cái gì từ bên ngoài vào trong con người, thì không thể làm cho con người ra ô uế, 19 bởi vì nó không đi vào lòng, nhưng vào bụng người ta, rồi bị thải ra ngoài?” Như vậy là Người tuyên bố mọi thức ăn đều thanh sạch. 20 Người nói: “Cái gì từ trong con người xuất ra, cái đó mới làm cho con người ra ô uế. 21 Vì từ bên trong, từ lòng người, phát xuất những ý định xấu: tà dâm, trộm cắp, giết người, 22 ngoại tình, tham lam, độc ác, xảo trá, trác táng, ganh tỵ, phỉ báng, kiêu ngạo, ngông cuồng. 23 Tất cả những điều xấu xa đó, đều từ bên trong xuất ra, và làm cho con người ra ô uế.”


 

Thánh Cô-lát-ti-ca (Scholastica), trinh nữ (480-543)-Cha Vương

Chúc Bạn một ngày bình an và tràn đầy hy vọng nhé. 

Cha Vương

Thư 3: 10/02/2026. (t5-22)

Hôm nay Giáo Hội mừng kính Thánh Cô-lát-ti-ca (Scholastica), trinh nữ (480-543). Ngài là quan thầy của các nữ tu và là đấng cầu giúp cho những ai chống lại bão và sấm sét.

      Anh em sinh đôi thường giống nhau về tính nết và tư tưởng cũng như nhiệt huyết. Do đó, người ta không ngạc nhiên khi Thánh Scholastica và người anh sinh đôi là Thánh Biển Ðức (Benedict), đều sáng lập các tu hội chỉ cách nhau có vài dặm.

       Sinh năm 480 trong một gia đình giầu có ở Norcia, Perugia, nước Ý. Scholastica và Benedict cùng lớn lên cho đến khi Benedict xa nhà đi học ở Rôma. Chúng ta không biết nhiều về thời niên thiếu của Thánh Scholastica. Sau này, ngài sáng lập dòng nữ tu ở Ý gần rặng Cassino, thuộc Plombariola, cách tu viện của anh ngài chỉ có năm dặm. Mỗi năm hai anh em chỉ gặp nhau có một lần, trong một nông trại, vì Scholastica không được phép vào tu viện. Cả hai dành thời giờ để thảo luận về các vấn đề tinh thần. Theo cuốn Ðối Thoại của Thánh Grêgôriô Cả, trong lần sau cùng hai anh em gặp nhau để cầu nguyện và truyện trò, Thánh Scholastica cảm thấy cái chết của mình gần kề nên nài xin anh Benedict ở với ngài cho đến ngày hôm sau. Thánh Benedict từ chối lời yêu cầu ấy vì ngài không muốn ở đêm bên ngoài tu viện, vì như thế chính ngài sẽ phá vỡ quy luật do ngài đặt ra. Thánh Scholastica xin Thiên Chúa cho phép anh mình ở lại, và một trận mưa lớn đổ xuống như thác khiến Benedict và các tu sĩ đi theo ngài không thể trở về tu viện. Thánh Benedict kêu lên, “Xin Chúa tha tội cho em. Em làm cái gì vậy?” Thánh Scholastica trả lời, “Em xin anh một ơn huệ và anh từ chối. Em xin Chúa, và Chúa nhận lời.” Ba ngày sau, ðang khi Thánh Benedict cầu nguyện trong tu viện thì ngài nhìn thấy linh hồn của em mình bay lên trời trong dạng chim bồ câu trắng. Thánh Benedict sai các tu sĩ đem xác của em mình về dòng và chôn trong chính ngôi mộ mà thánh nhân đã chuẩn bị cho mình. Thánh Scholastica từ trần vào khoảng năm 543, và sau đó không lâu Thánh Benedict cũng từ giã cõi đời. 

(Nguồn: Người Tín Hữu) 

Thánh Scholastica và Thánh Benedict đã giúp nhau đến gần Chúa hơn bằng cách họ đối xử với nhau. Theo gương các Ngài, những người thân yêu bạn hữu, thầy cô, v.v… của bạn đều có thể giúp Bạn trở nên gần với Chúa hơn mỗi ngày.

From Do Dzung

*****************************

Nên Thánh Giữa Đời – Xara Trần – (St: Sr Têrêsa)

 “Bẫy” 12 Giờ: Chiến Dịch “Hút Máu” Việt Kiều Dưới Nhãn Mác An Ninh?

Xuan Ly is with Phaolô Hiển Nguyễn 

 “Bẫy” 12 Giờ: Chiến Dịch “Hút Máu” Việt Kiều Dưới Nhãn Mác An Ninh?

Quy định buộc Việt kiều phải khai báo tạm trú trong vòng 12 giờ cùng mức phạt “cắt cổ” lên đến 20 triệu đồng đang lộ rõ là một nước cờ kinh tế đầy toan tính. Đây không đơn thuần là quản lý hành chính, mà là một “thuế nhớ nước” được dàn dựng công phu để tận thu nguồn ngoại tệ sống.

Khi Sự Mệt Mỏi Trở Thành “Mỏ Vàng”

Tại sao lại là con số 12 giờ cực đoan? Sau một chuyến bay vắt kiệt sức lực, ai cũng cần nghỉ ngơi. Chính cái khoảng thời gian “ngơ ngác” vì lệch múi giờ ấy là lúc cái bẫy sập xuống. Chỉ cần gia đình lơ là, một biên bản phạt bằng cả tháng lương sẽ được chìa ra ngay lập tức. Đây là chiến lược “tận thu trên sự sơ hở”, biến niềm vui đoàn viên thành nỗi lo sợ bị rình rập.

Thông Điệp Ngầm: “Gửi Tiền Về, Thân Đừng Về”

Nhiều người tin rằng đây là một phần của thuyết âm mưu nhằm tối ưu hóa nguồn thu mà không cần phục vụ:

  • Hành chính hóa sự phiền hà: Thủ tục rắc rối khiến kiều bào nản lòng. Thông điệp ẩn ý rất rõ ràng: “Chúng tôi cần đô-la của các bạn, nhưng không mặn mà với sự hiện diện của các bạn.”
  • Cánh tay nối dài của ngân sách: Biến mỗi chủ nhà thành một “cai ngục” tự nguyện vì sợ phạt. Sự “rực rỡ” của thời đại này chính là biến tình thân thành công cụ để bào tiền một cách hợp pháp.

Về quê ăn Tết mà cứ như đi “trốn nã”, vừa xuống sân bay đã phải lo chạy ra phường trước khi bị “vặt lông”. Phải chăng đây chính là chiến dịch “giữ chân kiều bào ở lại hải ngoại” để họ chỉ việc ngồi yên và chuyển tiền về cho an toàn?

Le Anh

May be an image of text that says 'EATONONE NENCO NENCOICINE EATON EATONSIEI hML Chiến Dịch "Bào" Việt Kiều: Khi Tình Quê Hương Có Giá 20 Triệu!'


 

KHIÊM TỐN, BẢN NGÃ VÀ CAO CẢ – Rev. Ron Rolheiser, OMI

Rev. Ron Rolheiser, OMI

Đối với đa số chúng ta, tôi ngờ rằng chữ bản ngã có một nghĩa tiêu cực.  Kết án ai có bản ngã to là kết án họ quá tin vào họ, tự thổi phồng, tự cao và thiếu khiêm tốn.  Lúc nào chúng ta cũng cho bản ngã và khiêm tốn là ngược nhau.  Có bản ngã to là không khiêm tốn.

 Nhưng điều này có vẻ đơn giản và sai.  Có bản ngã mạnh và lớn không nhất thiết là xấu.  Đúng ra, đó là một điều cần thiết, đặc biệt khi chúng ta thực hiện một cái gì có giá trị.  Không một ai làm một cái gì lớn mà không có bản ngã mạnh, và điều này không có nghĩa là họ không khiêm tốn.Ví dụ: 

Ít ai nghĩ mẹ Têrêxa có bản ngã lớn.  Khi nghĩ về mẹ, chúng ta nghĩ đó là một người khiêm tốn bẩm sinh.  Nhưng, rõ ràng, mẹ có một bản ngã khổng lồ, một hình ảnh tự hào rất mạnh, cho phép mẹ đứng thẳng trước toàn cầu để xác quyết chân lý, xác quyết mẹ có giá trị và tin chắc tầm quan trọng của mẹ.  Mẹ có thể đứng trước bất cứ ai trên thế giới và cho họ biết con người của mẹ và lời nói của mẹ là quan trọng.  Phải có một bản ngã rất mạnh mới làm được điều này, bản ngã của họ mạnh hơn bản ngã của đa số chúng ta.  Mẹ ý thức mẹ là khí cụ duy nhất và được Chúa chúc phúc trong thế giới này, mẹ đủ yên tâm để hành động.

 Dù vậy mẹ lại khiêm tốn.  Lúc nào mẹ cũng ý thức rằng những điều làm mẹ trở nên duy nhất, cá biệt và vững mạnh không bao giờ xuất phát từ bản thân mẹ mà đến từ Thiên Chúa.  Mẹ chỉ là một băng tần của quyền năng và ân sủng của một ai đó.  Mẹ có một bản ngã khổng lồ nhưng mẹ không ích kỷ.  Mẹ không bao giờ chứa đầy cái tôi, mẹ chỉ chứa đầy Thiên Chúa.

 Người ta cũng có thể nói như vậy với đức giáo hoàng Gio-an Phao-lô II: ngài khiêm tốn nhưng rõ ràng ngài có một bản ngã cũng khổng lồ.  Ngài có thể đứng trước hàng triệu người, giang tay ra và nói: “Cha thương các con!” (Với cả hệ luận đi kèm?), “Và quan trọng là các con phải nghe cha!”  Bản ngã của ngài phải rất mạnh mới nói được như vậy.  Đa số chúng ta sẽ run khi làm như vậy.  Chúng ta sẽ bị khống chế bởi hàng trăm rào cản nội tâm, chúng làm chúng ta tê liệt với các câu: “Bạn nghĩ bạn là ai mà nói như vậy!  Ai cho bạn có quyền nghĩ rằng cả thế giới muốn nghe bạn nói bạn thương họ?”

 Thêm một lần nữa, cũng giống như mẹ Têrêxa, đức giáo hoàng Gio-an Phao-lô II cũng sẽ nói  như vậy và ngài vẫn khiêm tốn, vì ngài biết rõ, những gì tạo nên ngài là người duy nhất, ân sủng không đến từ ngài và thuộc về ngài.  Ngài chỉ là băng tần.  Ngài có thể tiếp cận tầm cao cả và tự nhiên với tầm cao cả này, nhưng ngài không tự cho mình là cao cả và đòi hỏi tầm cao cả này cho riêng mình.  Đó là khác biệt giữa khiêm tốn và cao cả, giữa cao lớn và ích kỷ.  Một người ích kỷ có thể tiếp cận cao cả, nhưng khác với các vị thánh, người ích kỷ lấy bản sắc mình ở đó và cho rằng tự mình làm nên chuyện cao cả này.

 Về mặt thiêng liêng, chung chung người ta khó chấp nhận tầm quan trọng của bản ngã và thường chối bỏ thẳng thừng vai trò của bản ngã trên tầm cao cả, đặc biệt là tầm cao cả thiêng liêng.  Cách này cách khác, chúng ta không chấp nhận các thánh như thánh Phanxicô Assisi, Têrêxa Avila, Gioan Thánh Giá, Têrêxa Hài Đồng là những người có bản ngã khổng lồ – những người có niềm tự phụ lớn, nghĩ rằng họ là những người quan trọng đặc biệt.  Thay vào đó, chúng ta thường phản chiếu lên họ một hình ảnh sai về khiêm tốn, mà đối với họ thì không đúng và làm chúng ta tổn thương. 

Nó làm chúng ta tổn thương, vì đa số chúng ta, vấn đề lớn nhất trong đời sống chúng ta, kể cả đời sống thiêng liêng, chính là bản ngã của chúng ta quá yếu.  Chúng ta mang một hình ảnh quá yếu đến mức không cho phép chúng ta làm một cái gì thật sự lớn hoặc đúng để trải rộng tình thương và lòng nhiệt thành.

 Bởi vì hình ảnh chúng ta quá yếu, không giống như mẹ Têrêxa và đức giáo hoàng Gioan Phaolô II, chúng ngăn không cho chúng ta mở rộng lòng ra, nói lên chân lý và tình yêu đích thực của chúng ta.  Chúng ta có quá nhiều tiếng nói bên trong (chắc chắn nguồn gốc của nó là từ những tiếng nói bên ngoài) làm chúng ta bị tê liệt với những câu nói thường lệ: “Bạn nghĩ bạn là ai!  Đúng là tự hào và kiêu hãnh!  Đúng là bản ngã!  Bạn chưa có năng khiếu hoặc chưa giỏi để làm!  Không ai cần đến bạn!” 

Như thế, không phải vì bản ngã chúng ta mạnh nhưng vì nó yếu nên chúng ta mới cần bảo vệ nó.  Chúng ta chiến đấu để trở nên yếu mềm, chứ không phải chiến đấu để thành hoang tưởng và bảo vệ chúng ta.  Tại sao?  Chính xác vì chúng ta không đủ tự tin bên trong, vì bản ngã và niềm tự tin của chúng ta lung lay.  Thánh Phanxicô Assisi, Têrêxa Avila, Gioan Thánh Giá, Têrêxa Hài Đồng không bao giờ cần tự bảo vệ họ.  Họ đủ yên tâm để tỏ ra yếu mềm.  Họ có bản ngã vững mạnh.

 Chúng ta nên luôn luôn biết mệt về tính kiêu căng và ích kỷ.  Tuy nhiên, khiêm tốn giả tạo không làm cho chúng ta tránh được kiêu căng.  Thay vào đó, nó ngăn cản chúng ta đến với  nhiệt thành, yêu thương và những điều cao cả.

 Rev. Ron Rolheiser, OMI

From: Langthangchieutim


 

Bà Anna Eleanor Roosevelt (1884-1962)

My Lan Pham

 Eleanor Roosevelt 34 tuổi khi bà tìm thấy chúng ,một tập thư tình được giấu trong vali của Franklin. Ông đang hồi phục sau viêm phổi năm 1918, và bà chỉ đơn giản là dọn đồ cho chồng thì phát hiện ra sự thật: chồng bà đang ngoại tình với Lucy Mercer, nữ thư ký xã hội do chính Eleanor tuyển dụng và tin tưởng.

Sự phản bội là trọn vẹn. Bà đề nghị ly hôn. Mẹ ông dọa cắt nguồn tài chính. Các cố vấn chính trị cảnh báo điều đó sẽ hủy hoại sự nghiệp của ông. Vì vậy họ vẫn ở lại trong cuộc hôn nhân ấy ,nhưng Eleanor Roosevelt, người phụ nữ đã dành cả đời cố gắng để trở nên “đủ tốt”, đã ngừng cố gắng.

Khoảnh khắc đó không làm bà gục ngã. Nó giải phóng bà.

Nhưng để hiểu sự chuyển mình phi thường ấy, cần biết Eleanor Roosevelt là ai trước ngày hôm đó.

Bà sinh ra với tên Anna Eleanor Roosevelt ngày 11 tháng 10 năm 1884, trong giàu sang và đặc quyền nhưng phía sau là những tổn thương sâu sắc. Mẹ bà, Anna Hall Roosevelt, một mỹ nhân nổi tiếng New York, công khai gọi con gái là “Granny” vì cô bé quá nghiêm nghị, quá kém xinh. Những lời nhận xét về ngoại hình ấy đủ để phá vỡ lòng tự trọng của bất kỳ đứa trẻ nào.

Cha bà, Elliott Roosevelt, nghiện rượu. Eleanor yêu cha tha thiết ,ông là người duy nhất khiến bà cảm thấy được yêu thương nhưng căn bệnh khiến ông thất thường, vắng mặt, và phải vào viện điều trị. Khi Eleanor tám tuổi, mẹ mất. Chín tuổi, cha qua đời. Mười tuổi, bà thành trẻ mồ côi, được nuôi dạy bởi người bà lạnh lùng, nghiêm khắc.

Bà lớn lên với niềm tin rằng mình vốn dĩ không đáng được yêu. Rất nhút nhát, đầy mặc cảm, luôn sợ làm mọi người thất vọng.

Năm 19 tuổi, bà kết hôn với Franklin Delano Roosevelt ,người đàn ông đẹp trai, cuốn hút, và muốn cưới bà. Eleanor dốc sức trở thành người vợ hoàn hảo. Sáu người con trong mười năm. Quản lý sự nghiệp chính trị của chồng. Chủ trì các buổi tiếp khách dù luôn lo âu. Làm mọi điều xã hội mong đợi.

Rồi bà tìm thấy những lá thư chứng minh rằng “hoàn hảo” vẫn chưa đủ. Bà chưa bao giờ là đủ.

Nhưng nếu không thể có được tình yêu bằng cách trở nên hoàn hảo, thì bà sẽ sống là chính mình và làm những việc có ý nghĩa.

Năm 1921, Franklin mắc bệnh bại liệt khi mới 39 tuổi. Ngôi sao chính trị đang lên bỗng đứng trước nguy cơ chấm dứt sự nghiệp. Mẹ ông muốn ông rút về Hyde Park sống đời tàn tật. Eleanor ,khi ấy đã tìm thấy sức mạnh của chính mình ,kiên quyết không để ông bỏ cuộc.

Bà trở thành “đôi chân” của chồng. Bà dự những cuộc họp ông không thể đến. Bà diễn thuyết khi ông không thể đi xa. Bà trở thành cầu nối của ông với thế giới.

Và bà phát hiện mình làm điều đó rất xuất sắc.

Khi Franklin trở thành tổng thống năm 1933, Eleanor từ chối vai trò Đệ nhất phu nhân truyền thống chỉ tổ chức tiệc trà và mỉm cười trước ống kính. Bà trở thành điều nước Mỹ chưa từng thấy.

Bà tổ chức họp báo hằng tuần nhưng chỉ dành cho nữ phóng viên, buộc các tòa soạn phải tuyển phụ nữ nếu muốn tiếp cận Nhà Trắng. Hàng chục phụ nữ có sự nghiệp báo chí nhờ chiến lược nữ quyền ấy.

Bà viết chuyên mục “My Day” trên báo sáu ngày mỗi tuần suốt 27 năm. Bà kiếm tiền riêng, tự quản tài chính, có tiếng nói độc lập với chồng.

Bà đi khắp nước Mỹ trong thời kỳ Đại Khủng Hoảng. Xuống hầm mỏ than. Thăm trại lao động di cư. Gặp các lãnh đạo công đoàn và nhà hoạt động dân quyền. Franklin gọi bà là “đôi mắt và đôi tai của tôi”. Các cố vấn gọi bà là “kẻ xen vào”. Bà không quan tâm.

Mật vụ ghét bảo vệ bà vì bà luôn đến những nơi họ cho là nguy hiểm ,khu dân cư người da đen, các cuộc đình công, vùng nghèo đói. Bà tin công việc của mình quan trọng hơn sự an toàn cá nhân.

Rồi đến năm 1939. Marian Anderson, một trong những giọng ca opera vĩ đại nhất thế giới, bị từ chối biểu diễn tại Constitution Hall ở Washington, D.C., chỉ vì bà là người da đen. Tổ chức Daughters of the American Revolution áp dụng chính sách “chỉ dành cho người da trắng”.

Eleanor Roosevelt là thành viên của tổ chức này. Bà có thể im lặng. Nhưng bà đã công khai từ chức trong một bức thư gây chấn động:

“Tôi hoàn toàn không đồng ý với thái độ từ chối Constitution Hall đối với một nghệ sĩ vĩ đại. Quý vị đã có cơ hội dẫn dắt theo hướng tiến bộ, nhưng tổ chức của quý vị đã thất bại.”

Sau đó bà góp phần tổ chức một sự kiện chưa từng có: buổi hòa nhạc miễn phí trên bậc thềm Đài tưởng niệm Lincoln.

Ngày 9 tháng 4 năm 1939, 75.000 người tụ tập để nghe Marian Anderson hát. Đó trở thành một trong những khoảnh khắc dân quyền mạnh mẽ nhất trước khi phong trào dân quyền bùng nổ bởi Eleanor Roosevelt đã dùng đặc quyền của mình để tạo ra công lý.

Các lời đe dọa giết người đến ngay sau đó. FBI lập hồ sơ theo dõi bà. Báo chí bảo thủ gọi bà là cộng sản. Những người ủng hộ phân biệt chủng tộc ở miền Nam căm ghét bà. Bà vẫn tiếp tục làm việc.

Bà vận động luật chống lynching. Ủng hộ công đoàn. Thúc đẩy quyền phụ nữ và bình đẳng chủng tộc ,những lập trường khiến bà vừa được ngưỡng mộ nhất vừa bị ghét bỏ nhất nước Mỹ.

Khi Franklin qua đời năm 1945, mọi người nghĩ bà sẽ nghỉ hưu. Bà đã 60 tuổi, làm Đệ nhất phu nhân suốt mười hai năm.

Nhưng bà bắt đầu công việc quan trọng nhất đời mình.

Tổng thống Truman bổ nhiệm bà vào Liên Hợp Quốc. Năm 1946, bà trở thành Chủ tịch Ủy ban Nhân quyền LHQ, phụ trách soạn thảo một tuyên ngôn nhân quyền toàn cầu ,xác định những quyền cơ bản cho mọi con người.

Đó là nhiệm vụ gần như bất khả thi. Các nhà ngoại giao từ hàng chục quốc gia với hệ thống hoàn toàn khác nhau phải đồng thuận về những nguyên tắc chung. Chiến tranh Lạnh đang bắt đầu. Mỹ và Liên Xô đã đối đầu.

Eleanor dành hai năm thương lượng, thuyết phục, thỏa hiệp, đấu tranh. Những ngày làm việc 18 giờ. Tự học ngoại giao quốc tế. Không bao giờ bỏ cuộc.

Ngày 10 tháng 12 năm 1948, Đại hội đồng LHQ thông qua Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền. Eleanor là người dẫn dắt văn kiện ấy vượt qua mọi trở ngại.

Tuyên ngôn trở thành nền tảng của luật nhân quyền quốc tế. Nó được dịch ra hơn 500 ngôn ngữ. Truyền cảm hứng cho các phong trào công lý khắp thế giới.

Eleanor Roosevelt cô gái từng bị nói là xấu xí và vô giá trị, người vợ bị phản bội, người phụ nữ từng tin mình không đủ ,đã góp phần tạo nên một văn kiện định nghĩa phẩm giá con người cho toàn thế giới.

Bà làm việc cho đến vài tuần trước khi qua đời năm 1962, hưởng thọ 78 tuổi. Bà không bao giờ ngừng viết, nói, đi, và đấu tranh.

Tổng thống Truman gọi bà là “Đệ nhất phu nhân của thế giới”. Tổng thống Kennedy nói bà là một trong những phụ nữ vĩ đại nhất lịch sử Mỹ. Nhưng khi còn sống, hàng triệu người ghét bà vì bà không chịu im lặng và chỉ làm cảnh.

Bà từng bị gọi là cô gái xấu xí nhất New York. Chồng ngoại tình với chính người làm việc cho bà. Và rồi bà trở thành người phụ nữ quyền lực nhất nước Mỹ.

Bà đã định nghĩa lại vai trò của một Đệ nhất phu nhân. Đấu tranh cho quyền dân sự khi điều đó rất nguy hiểm. Góp phần viết nên Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền.

Tất cả bắt đầu từ khoảnh khắc sự phản bội khiến bà ngừng tìm kiếm sự chấp nhận và bắt đầu đòi hỏi công lý.

Theo Incredible and Strange Everything

My Lan Phạm

May be an image of text that says 'SR She was calle called ugly. Her husband betrayed her with her own employee. Then she rewrote what it meant to be powerful- and changed the world forever.'


 

Khi người ta tìm thấy anh, hai mươi ba ngày sau đó, anh không hề đơn độc.

Những Câu Chuyện Thú VịChi Nguyen

May be an image of dog and arctic

Năm 2013, tại vùng Patagonia của Argentina, Bernardo Leónidas Quirós đã mất tích sau khi chiếc xe của anh bị hỏng giữa một khu vực hoang vu, xa đường sá và nơi trú ẩn. Đi cùng anh là chú chó chăn cừu Đức tên Talero. Theo những bằng chứng thu thập được gần đây nhất,Bernardo đã rời xe và đi bộ với hy vọng tìm được sự trợ giúp.

Rồi cơn bão tuyết ập đến.

Cái lạnh ở Patagonia không cho phép bất kỳ sai lầm nào. Khoảng cách trở nên vô tận, phương hướng biến mất, và cơ thể con người dần khuất phục. Bernardo đã không sống sót và chết vì hạ thân nhiệt, một mình giữa vùng đất lạnh lẽo không chút khoan dung.

Khi đội cứu hộ cuối cùng cũng tìm được thi thể, cảnh tượng trước mắt khiến họ lặng người. Talero vẫn ở đó. Nó không rời đi. Suốt nhiều tuần liền, nó canh giữ bên chủ của mình, ngày lẫn đêm.

Những người cứu hộ nói rằng chú chó đã xua đuổi thú hoang và có lẽ đã cố giữ ấm cho Bernardo bằng cách ép sát thân mình vào anh. Không còn gì có thể làm cho người đàn ông ấy nữa, nhưng con chó thì không bỏ đi. Nó không hiểu về cái kết. Nó chỉ tiếp tục làm điều mà nó biết làm: ở lại.

Talero được tìm thấy còn sống — kiệt sức, suy yếu, nhưng vẫn ở đúng chỗ của mình.

Câu chuyện này không nói về một sự anh hùng ngoạn mục. Nó nói về một lòng trung thành không cần lời giải thích, không biết đến sự bỏ rơi, không phân biệt giữa hy vọng và tuyệt vọng. Trong một thế giới nơi con người thường rời đi khi mọi thứ trở nên khó khăn, hình ảnh một con chó ở bên cạnh một thi thể giữa giá lạnh băng tuyết nhắc chúng ta rằng:

đôi khi, hình thức thuần khiết nhất của tình yêu chỉ đơn giản là không quay lưng bỏ đi.

TG Văn Chương

ST.


 

THÁNH THIỆN VÔ TRÙNG – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Dân này tôn kính Ta bằng môi bằng miệng, còn lòng chúng thì lại xa Ta!”.

“Khi đôi môi cử hành lễ nghi mà nội tâm vẫn khép kín, đó không phải là thờ phượng – đó là đóng kịch!” – Romano Guardini.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay không công kích lễ nghi, nhưng chạm vào những trái tim cử hành lễ nghi mà nội tâm vẫn khép kín, những trái tim ‘thánh thiện vô trùng!’.

Như các biệt phái, chúng ta có thể rất đúng luật, chỉn chu, chuẩn mực; chúng ta rửa tay trước khi ăn, giữ chay đúng ngày, đọc kinh đủ giờ, tham dự phụng vụ đều đặn. Tất cả đều tốt. Chúa Giêsu không phủ nhận truyền thống; Ngài chỉ lật ngược vấn đề: điều gì đang diễn ra bên trong? Có khi môi miệng chúng ta mấp máy thành thạo, nhưng lòng lại không hề rung động; đứng trong đền thờ, mà đôi khi, trái tim thì đứng ngoài. Và thế là, thay vì để Thiên Chúa thanh tẩy mình, chúng ta lại dùng nghi lễ để che chắn mình. Một đời sống đạo như thế dễ trượt vào ‘thánh thiện vô trùng’. “Không cần nhiều lời, chỉ cần để nội tâm thưa ‘xin vâng’ trong từng lời kinh, từng cử chỉ – và bạn sẽ được biến đổi!” – Fulton Sheen.

Vì thế, vấn đề không phải là bỏ nghi lễ, nhưng là để nghi lễ dẫn chúng ta vào tương quan sống động với Thiên Chúa. “Phụng vụ không phải là điều chúng ta làm ra, nhưng là điều chúng ta bước vào!” – Henri de Lubac. Nếu phụng vụ là nơi chúng ta bước vào mầu nhiệm tự hiến của Chúa Kitô, thì chúng ta càng không thể bước vào mà lòng vẫn khép kín. Nếu Thánh Lễ là nơi Ngài trao mình, thì chúng ta không thể chỉ trao môi miệng.

“Dân này tôn kính Ta bằng môi bằng miệng, còn lòng chúng thì lại xa Ta!”. Xa không phải vì thiếu hình thức, nhưng vì thiếu tình yêu; xa vì chúng ta muốn một thứ đạo đức không làm mình đau, một sự công chính không đòi mình đổi thay. Nhưng theo Chúa Kitô là để mình bị uốn nắn, bị lột bỏ, bị thanh luyện. Đó không phải là sự ‘thánh thiện vô trùng’, mà là sự thánh thiện biết yêu đến mức chấp nhận bị thương.

Anh Chị em,

Đức Kitô không dựng hàng rào quanh sự thánh thiện của mình. Ngài chạm vào người phong hủi để làm họ được sạch; để một phụ nữ tội lỗi chạm vào chân mình hầu cô được tha. Chung bàn với hạng thu thuế, Ngài không kết án nhưng để cứu linh hồn họ. Và cuối cùng, Ngài chết trần trụi giữa máu và bụi, giữa tiếng chế nhạo và mùi tử khí. Sự thánh thiện của Ngài không ‘vô trùng’; đó là sự thánh thiện dám bị thương tích, dám mang lấy vết nhơ để trao lại cho chúng ta sự sống. Hôm nay, Chúa Giêsu không mời chúng ta bớt đạo đức; Ngài mời chúng ta đạo đức thật. Không chỉ tôn kính bằng môi miệng, nhưng bằng trái tim; không chỉ giữ luật, nhưng để luật dẫn đến yêu thương. Chỉ khi ấy, việc thờ phượng của chúng ta mới thôi là trình diễn, và trở thành gặp gỡ. “Mọi nghi thức chỉ là vỏ bên ngoài nếu không có lửa từ bên trong!” – Romano Guardini.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, đừng để con núp sau một đức tin sạch sẽ, cho con dám để Chúa chạm vào vết thương sâu kín nhất; xin thanh tẩy con bằng tình yêu đã đổ máu của Ngài!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

 *******************************

Lời Chúa Thứ Ba, Tuần V Thường Niên, Năm Chẵn

Các ông gạt bỏ điều răn của Thiên Chúa, mà duy trì truyền thống của người phàm.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mác-cô.     Mc 7,1-13

1 Khi ấy, có những người Pha-ri-sêu và một số kinh sư tụ họp quanh Đức Giê-su. Họ là những người từ Giê-ru-sa-lem đến. 2 Họ thấy vài môn đệ của Người dùng bữa mà tay còn ô uế, nghĩa là chưa rửa. 3 Thật vậy, người Pha-ri-sêu cũng như mọi người Do-thái đều nắm giữ truyền thống của tiền nhân : họ không ăn gì, khi chưa rửa tay cẩn thận ; 4 thức gì mua ngoài chợ về, cũng phải rảy nước đã rồi mới ăn ; họ còn giữ nhiều tập tục khác nữa như rửa chén bát, bình lọ và các đồ đồng. 5 Vậy, người Pha-ri-sêu và kinh sư hỏi Đức Giê-su : “Sao các môn đệ của ông không theo truyền thống của tiền nhân, cứ để tay ô uế mà dùng bữa ?” 6 Người trả lời họ: “Ngôn sứ I-sai-a thật đã nói tiên tri rất đúng về các ông là những kẻ đạo đức giả, khi viết rằng :

Dân này tôn kính Ta bằng môi bằng miệng,
còn lòng chúng thì lại xa Ta.
7Chúng có thờ phượng Ta thì cũng vô ích,
vì giáo lý chúng giảng dạy chỉ là giới luật phàm nhân.

8 Các ông gạt bỏ điều răn của Thiên Chúa, mà duy trì truyền thống của người phàm.” 9 Người còn nói : “Các ông thật khéo coi thường điều răn của Thiên Chúa, để nắm giữ truyền thống của các ông. 10 Quả thế, ông Mô-sê đã dạy rằng : ‘Ngươi hãy thờ cha kính mẹ’ và ‘kẻ nào nguyền rủa cha mẹ, thì phải bị xử tử !’ 11 Còn các ông, các ông lại bảo : ‘Người nào nói với cha với mẹ rằng : những gì con có để giúp cha mẹ đều là ‘co-ban’ nghĩa là lễ phẩm đã dâng cho Chúa’ rồi, 12 và các ông không để cho người ấy làm gì để giúp cha mẹ nữa. 13 Thế là các ông lấy truyền thống các ông đã truyền lại cho nhau mà huỷ bỏ lời Thiên Chúa. Các ông còn làm nhiều điều khác giống như vậy nữa !”


 

Ơn thánh Chúa và tự do của ta liên quan thế nào?- Cha Vương

Trận Super Bowl 2026 thật ấn tượng! Xin cho người thắng đừng quá hống hách và người thua đừng quá tự ti. Một ngày bình yên trong Chúa nhé.

Cha Vương

Thứ 2: 9/2/2026. (10-25)

GIÁO LÝ: Ơn thánh Chúa và tự do của ta liên quan thế nào? Ơn thánh Chúa luôn tôn trọng tự do của con người, nó khơi gợi và mời gọi con người đáp lại hoàn toàn tự do. Ơn thánh không ép buộc, tình yêu Chúa muốn con người tự ý chấp nhận. (YouCat, số 340)

SUY NIỆM: Ta luôn có thể từ chối ân sủng. Ân sủng không phải cái gì ở bên ngoài, xa lạ với con người, thật sự ân sủng là điều mà tự do của con người khao khát rất sâu xa. Ân sủng chạm đến trong ta là để Thiên Chúa đi trước và ta tự ý đáp lại. (YouCat, số  340 t.t.)

❦  Đức Maria nói: Đây tôi là tôi tá Chúa, tôi “xin vâng” như lời thiên thần dạy. (Lc 1,38)

❦  Thật vậy, mọi người đã phạm tội và bị tước mất vinh quang Thiên Chúa, nhưng họ được trở nên công chính do ân huệ Thiên Chúa ban không, nhờ công trình cứu chuộc thực hiện trong Đức Kitô Giêsu. (Rm 3,23-24)

❦  Thánh thiện không phải là chuyện xa xỉ cho một số người, nhưng đơn giản là bổn phận của bạn và của tôi. (Mẹ Têrêsa Calcutta)

LẮNG NGHE: Anh em đã được gọi để hưởng tự do, có điều là đừng lợi dụng tự do để sống theo xác thịt, nhưng hãy lấy đức mến mà phục vụ lẫn nhau. (Gl 5:13)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, tự do là món quà cao quý và lớn lao nhất mà Chúa ban cho con nhưng nó cũng là điều khủng khiếp nhất nếu con dùng nó để thỏa mãn cái tôi ích kỷ, thỏa mãn đam mê nhục dục thấp hèn, xin cho con luôn biết cộng tác với ơn Chúa để những việc làm trong ngày hôm nay sinh nhiều hoa trái.

THỰC HÀNH: Thánh Tôma Aquinô nói tự do là “khả năng của ý chí con người, nhờ đó con người có thể điều hướng những hoạt động của mình đến cùng đích”. Cùng đích ở đây là sự hoàn thiện trọn vẹn và hạnh phúc trong Chúa. Mời bạn hãy xét mình coi mình có sử dụng món quà tự do đúng với ý định của Chúa không nhé. Hãy làm một thay đổi để sống tốt đẹp hơn. 

From: Do Dzung

*********************

Bao La Tình Chúa – Sáng tác: Giang Ân – Thể hiện: Kiều Oanh Nguyễn