Kỷ niệm 14 năm ngày Website “Kẻ Đi Tìm” ra đời

Ngày 07 tháng 04 năm 2026, Website “Kẻ Đi Tìm” đã ra đời được 14 năm, một thời gian khá dài.

Tôi đã hết sức cố gắng duy trì Website này vì:

1)      Tôi thấy rất có ích cho nhiều người đang tìm hiểu về đạo Chúa, có nhiều bài vỡ, tài liệu để học hỏi thêm về đạo Chúa.

2)       Những ai muốn biết về tình hình trong nước, về cộng sản Việt Nam cũng có nhiều bài vỡ hữu ích để xem và suy tư

3)      Những ai chán nản, buồn rầu về cuộc sống, cũng có thể tìm thấy sự an ủi trong các bài viết của Website này.

4)      Riêng Ban Biên Tập của chúng tôi rất vui mừng và hạnh phúc vì lúc về hưu, chúng tôi có việc để làm và thấy đời sống có ý nghĩa, không vô ích, mà còn có thể đóng góp, đem “món ăn” tinh thần cho độc giả, cho bà con và cho các con cháu.

Ngày 07 tháng 04 năm 2026

  Ban Biên Tập

Website “Kẻ Đi Tìm”

Bạn có thể là Kitô hữu mà không tin Chúa Giêsu đã sống lại không?  – Cha Vương

Ha-lê-lui-a!!! Nguyện xin Chúa Phục Sinh sưởi ấm tâm hồn bạn hôm nay nhé.không quên nhớ nhau trong lời cầu nguyện và cho cả thế giới nhe

Cha Vương

Thứ 3: 07/04/2026. (n19-22)

GIÁO LÝ:  Bạn có thể là Kitô hữu mà không tin Chúa Giêsu đã sống lại không?  Không. Thánh Phaolô viết: “Nếu Chúa Kitô đã không sống lại thì lời chúng tôi rao giảng sẽ vô ích, và đức tin của bạn cũng vô ích” (1Cr 15,14). Vậy, Làm thế nào mà các môn đệ Chúa Giêsu đã đi đến chỗ tin Người sống lại? Đầu tiên, các ông mất hết hy vọng, nhưng dần dần, các ông đã đi đến chỗ tin Chúa sống lại, vì sau khi Người chết, họ đã thấy Người trong nhiều dịp khác nhau, các ông đã nói chuyện với Người, đã có kinh nghiệm rõ ràng là Người đang sống. (YouCat, số 104 & 105)

SUY NIỆM: Những biến cố Phục Sinh diễn ra ở Giêrusalem khoảng năm 30 không phải là chuyện bày đặt ra. Bị sốc vì cái chết của Chúa và vì sự nghiệp chung thất bại, các môn đệ đã trốn mất. Chúng tôi hy vọng rằng Người là Đấng sẽ giải thoát Israel (Lc 24,21). Hoặc các ông ẩn núp sau những cửa đóng kín. Chỉ nhờ được gặp gỡ Chúa Kitô sống lại họ mới được giải thoát khỏi bị ức chế và được đầy niềm tin phấn khởi vào Chúa Giêsu, Chúa của sự sống và sự chết. (YouCat, số 105 t.t.)

❦   Biến cố Chúa Giêsu chết và sống lại trở thành tâm điểm của Kitô giáo. Đó là điểm tựa cho đức tin của ta, là đòn bảy mạnh mẽ cho tin tưởng vững chắc của ta, là luồng gió mạnh quét sạch mọi sợ hãi, và lưỡng lự, mọi hồ nghi và tính toán của loài người. (Đức Bênêđictô XVI, 19-10-2006)

❦  Ai hiểu biết lễ Vượt Qua thì không thể thất vọng nữa. (Dietrich Bonhoeffer, 1906–1945, thần học gia Tin lành và chống Hitler bị xử tử trong trại tập trung Flossenbürg)

LẮNG NGHE: Chúng ta có sống là sống cho Chúa, mà có chết cũng là chết cho Chúa. Vậy, dù sống, dù chết, chúng ta vẫn thuộc về Chúa; vì Đức Ki-tô đã chết và sống lại chính là để làm Chúa kẻ sống cũng như kẻ chết. (Rm 14: 8-9)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa Kitô phục sinh, Chúa là Đường  để con bước đi, là Sự Thật để con tín thác, là Sự Sống để con được sống muôn đời. Xin đừng để con xa lìa Chúa bao giờ.

THỰC HÀNH: “Đấng Cứu Thế đã bảo đảm cho chúng ta về sự hiện diện hữu hình của Người ở giữa chúng ta, ngang qua Lời Chúa và bí tích Thánh thể.” Trong Mùa Phục Sinh này mời bạn hãy tham dự Thánh Lễ một cách sốt sắng hơn

From: Do Dzung

***********************

Ngọn Nến Phục Sinh – Sáng tác: Sr. Têrêxa – Phương Thảo

Anh qua đời ở tuổi 30 vì đã trao cơ hội sống duy nhất của mình cho một đứa trẻ

My Lan Pham

 Anh qua đời ở tuổi 30 vì đã trao cơ hội sống duy nhất của mình cho một đứa trẻ mà anh thậm chí không hề quen biết.

Tên anh là Giuseppe Girolamo ,một tay trống trẻ đến từ miền Nam nước Ý, đang sống giấc mơ của mình khi biểu diễn âm nhạc trên con tàu du lịch Costa Concordia.

Đêm ngày 13 tháng 1 năm 2012, con tàu khổng lồ lướt qua vùng biển Tyrrhenian yên ả như một cung điện nổi rực sáng. Ly chạm ly, âm nhạc vang lên, và hàng ngàn hành khách đang tận hưởng khoảnh khắc lễ hội.

Rồi âm thanh kinh hoàng của kim loại xé vào đá vang lên gần đảo Giglio.

Chỉ trong vài giây, niềm vui biến thành hỗn loạn.

Đèn vụt tắt.

Boong tàu nghiêng đi ở một góc đáng sợ.

Nỗi hoảng loạn lan khắp con tàu khi lệnh rời tàu cuối cùng được ban ra.

Mọi người chen lấn, la hét, tuyệt vọng tìm đường đến các xuồng cứu sinh.

Giuseppe có một vị trí được chỉ định sẵn trên một xuồng cứu sinh.

Là thành viên thủy thủ đoàn, chỗ của anh đã được dành riêng.

Nhưng khi đến điểm sơ tán, anh nhìn thấy một người mẹ hoảng loạn tên Antonella đang ôm cô con gái nhỏ.

Chiếc xuồng lúc đó đã kín chỗ.

Không còn chỗ cho hai mẹ con.

Không chút do dự, Giuseppe lùi lại.

Anh nhìn người mẹ và đứa bé rồi bình tĩnh nói:

“Mời chị và bé lên đi.”

Anh đã nhường chỗ của mình ,cơ hội sống sót duy nhất được bảo đảm để họ có thể sống.

Điều đau lòng nhất là:

Giuseppe không biết bơi.

Khi chiếc xuồng cứu sinh dần rời khỏi thân tàu đang nghiêng, anh đứng một mình trên boong tàu chao đảo, nhìn họ khuất dần vào bóng tối.

Trong khi cả thế giới sau đó tập trung vào việc vị thuyền trưởng bỏ tàu và sự hỗn loạn tiếp theo, hành động dũng cảm lặng lẽ của Giuseppe đã trở thành một tia sáng trong một trong những thảm họa hàng hải đen tối nhất thời hiện đại.

Phải mất nhiều tháng sau, các thợ lặn mới tìm thấy thi thể anh trong xác tàu.

Nhưng di sản của anh đã được khắc sâu trong cuộc đời của hai mẹ con đã trở về nhà an toàn nhờ anh.

Trong một đêm bị bao trùm bởi nỗi sợ và bản năng sinh tồn, một chàng trai trẻ đã chọn lòng nhân ái thay vì mạng sống của chính mình.

Giuseppe Girolamo không chỉ chơi nhịp trống trên con tàu ấy.

Anh đã trở thành nhịp tim của ý nghĩa thật sự của lòng dũng cảm.

Yên nghỉ nhé, Giuseppe.

Bản nhạc cuối cùng của anh là bản nhạc mạnh mẽ nhất.

Hãy chia sẻ nếu bạn tin những câu chuyện như thế này xứng đáng được ghi nhớ.

Theo Curiously Unusual Wonder

My Lan Phạm

SỐNG ĐƠN GIẢN – Lm Giuse Nguyễn Hữu An

 Lm Giuse Nguyễn Hữu An

 Trong kho tàng văn chương tu đức Ấn Giáo có chuyện kể như sau:

Ở một làng nọ, có vị đạo sĩ, Sadhu, tu thân lâu ngày, gần đạt đến bậc thánh nhân.  Dân chúng ngưỡng mộ, quý mến nhà đạo sĩ, đến thỉnh ý, tầm thầy học đạo.

Một ngày kia, thấy vị đạo sĩ rách rưới, kẻ qua đường biếu nhà đạo sĩ manh vải che mình.  Những lúc Sadhu ngồi thiền niệm, bầy chuột tưởng tượng gỗ, rúc vào tấm vải gặm nhấm.  Tội nghiệp, có kẻ qua đường thấy thế, biếu Sadhu con mèo bắt chuột.  Dân trong làng thương tình, thay nhau đem sữa nuôi con mèo.  Rồi ngày nọ, có kẻ hành hương từ phương xa, nghe tiếng thơm nhân đức, đến viếng nhà đạo sĩ.  Người đàn bà giàu có ấy tặng đạo sĩ Sadhu con bò để lấy sữa nuôi con mèo.  Để nuôi con bò, người ta làm cho nó cái chuồng.  Từ dạo đó, con bò có chuồng, vị đạo sĩ không có nhà.  Thấy thế không ổn, dân trong làng làm cho nhà đạo sĩ chiếc chòi lá.

Từ ngày ấy, nhà đạo sĩ không còn nhiều thời giờ tu niệm như xưa, bận rộn nuôi con bò để lấy sữa nuôi con mèo.  Nuôi con mèo để đuổi lũ chuột.  Phải lo sửa sang căn nhà.  Dân trong làng không muốn nhà đạo sĩ mất thời giờ săn sóc con bò, họ gởi một người đàn bà đến cắt cỏ nuôi con bò, săn sóc con mèo thay cho nhà đạo sĩ có giờ thiền tu.

Nhà đạo sĩ đã có tấm vải che thân, có con mèo đuổi chuột, có con bò cho sữa, có căn nhà để ở, có người đàn bà săn sóc cuộc đời mình.  Chẳng bao lâu, nhà đạo sĩ không còn thời gian tĩnh mịch nữa, ông đầy đủ hết rồi.

Đâu là con đường tu đạo?  Ông lấy người đàn bà làm vợ, thế là chấm dứt cuộc đời hạnh tu…

Sống đơn giản đưa Shadu vào đời sống tu hạnh.  Mất đơn giản, ông mất lý tưởng.  Trong Giáo Hội, tất cả các đại thánh đều có đời sống đơn giản.  Không phải trong Giáo Hội Công Giáo mà thôi, tất cả thánh nhân trong tôn giáo khác cũng vậy. (x. Những trang nhật ký của một linh mục, Nguyễn Tầm Thường, SJ).

*****

Bài đọc 1 hôm nay kể chuyện Êlisa quyết tâm theo Êlia để làm Ngôn sứ.  Êlisa là nông dân, đang cày ruộng với 12 cặp bò.  Nghe Thầy Êlia kêu gọi, Êlisa đã chẻ cày làm củi, giết bò làm lễ vật, thiêu đốt tất cả để dâng tiến Chúa, rồi lên đường theo Thầy.  Ruộng đất, trâu bò, cày cuốc là tài sản của nông dân.  Đốt cày cuốc, làm thịt trâu bò, có nghĩa là từ bỏ tài sản, là đoạn tuyệt với nghề nghiệp cũ.  Đó là một lựa chọn dứt khoát.  Ra đi không vướng bận, không luyến tiếc những gì đã có.  Đó là thái độ dứt khoát và phó thác, vâng phục hoàn toàn.

 Khác với thái độ của Êlisa, Tin Mừng hôm nay thuật chuyện ba người muốn theo Chúa Giêsu, xin được làm môn đệ.  Chúa đòi hỏi họ phải dứt khoát trong chọn lựa.

 Người thứ nhất hăng hái xin theo Chúa đi bất cứ nơi đâu.

Chúa Giêsu không giấu anh hoàn cảnh bấp bênh của mình.  Ngài sống cuộc đời phiêu bạt, không mái nhà để trú, lúc nào cũng ở trong tư thế lên đường.  Chấp nhận theo Ngài là chịu bỏ mọi an toàn, không ổn định, là sống thân phận lữ khách trên mặt đất (x.1Pr 2,11).  Theo Ngài là theo Đấng có chỗ tựa đầu.  Chỗ tựa đầu tiên là máng cỏ.  Chỗ tựa đầu cuối là thập giá.

 Người thứ hai chấp nhận theo Chúa với điều kiện cho anh về chôn cất người cha mới qua đời trước đã.  Anh muốn chu toàn bổn phận thiêng liêng của người con.  Chúa Giêsu coi trọng việc hiếu kính mẹ cha (x. Mt 15,3-9), nhưng Ngài đòi anh dành ưu tiên cho việc loan báo Tin Mừng. 

Người thứ ba xin về từ giã gia đình trước đã.

Chúa Giêsu đòi anh ta dứt khoát thẳng tiến như người cầm cày, không quay lại với những kỷ niệm quá khứ, không bị cản trở bởi những ràng buộc gia đình, để tận tâm tận lực lo cho Nước Thiên Chúa. 

Ba người muốn xin đi theo để làm môn đệ của Chúa Giêsu.  Thế nhưng, họ không dứt khoát chọn lựa như Êlisa, họ vẫn còn đắn đo kỹ lưỡng, chần chừ vì những lý do xác thịt và bịn rịn gia đình.  Chúa Giêsu trả lời cho cả ba trường hợp là “hãy theo Ta” và đặt giá trị thiêng liêng lên trên mọi của cải vật chất.  Theo Chúa lên Giêrusalem là đánh đổi cuộc đời quá khứ để lấy một tương lai mới, tuy vô định, đầy gian nan, bất trắc nhưng tươi sáng và chân thật hơn.  Ba trường hợp khác nhau, nhưng đều chung một lời mời gọi từ Chúa Giêsu.  Ba lời đối thoại trên cũng là ba đòi hỏi hướng đến điều răn thứ nhất: “Phải yêu mến Chúa là Thiên Chúa hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn” (Mt 22, 37). 

Theo Chúa phải can đảm, phải chọn lựa và ưu tiên tìm kiếm và loan báo về Nước Thiên Chúa trước, còn mọi chuyện khác, Chúa sẽ lo cho sau.  Con đường đi tìm Chúa là con đường con đường của từ bỏ… Tuy nhiên, muốn đạt được hạnh phúc thật thì phải lựa chọn trong tinh thần dứt khoát.

 Nếu cuộc đời con người là một chuỗi những chọn lựa, thì chính những chọn lựa ấy sẽ dệt nên cuộc đời riêng của mỗi người.  Nếu cuộc đời người Kitô hữu là một chọn lựa dứt khoát cho việc tìm kiếm Nước Thiên Chúa, thì đó chính là một chuỗi những lời đáp trả tiếng Chúa vang lên từng phút giây trong cuộc sống. 

Nhìn lại những chọn lựa hằng ngày, chúng ta chợt giật mình, vì thấy chúng ta thường hay chọn mình: sở thích của mình, tự do của mình, hạnh phúc của mình, gia đình của mình…  Chúng ta chọn tất cả những gì ít nhiều dính dáng đến bản thân.  Nhưng Đức Giêsu lại dạy: “Hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa trước đã, còn mọi sự khác, Người sẽ thêm cho” (Mt 6,33). 

Ơn gọi của Êlisa đến trong lúc ông đang cày ruộng, đang làm những công việc hàng ngày.  Ơn gọi của Phêrô xảy đến khi ông đang thả lưới, của Môsê khi ông đang chăn chiên, của Mathêu khi ông đang ngồi bàn thu thuế…  Ơn gọi tiêu biểu của mỗi cá nhân là ở trong bổn phận hàng ngày.  Sống ơn gọi của mình là biết chọn lựa và ưu tiên.  Đó cũng là lời mời gọi, hãy đơn giản hoá cuộc sống.

 Cuộc sống thật đơn giản vì nó vốn rất đơn giản.  Khi còn nhỏ thì đơn giản, lớn lên trở nên phức tạp.  Khi nghèo khó thì đơn giản, lúc giàu có trở nên phức tạp.  Khi thất thế thì đơn giản, lúc có địa vị thì trở nên phức tạp.  Tự nhận bản thân đơn giản, đánh giá người khác phức tạp.  Thật ra, thế giới này rất đơn gỉan chỉ có lòng người là phức tạp.  Mà suy cho cùng thì lòng người cũng đơn giản, chỉ vì có lợi ích chi phối nên con người mới trở nên phức tạp.  Đời người, đơn giản thì vui vẻ.  Nhưng người vui vẻ được mấy người.  Đời người, phức tạp thì phiền não.  Nhưng người phiền não thì quá nhiều.  Trong cuộc đời mỗi người đều không thể tránh khỏi những lúc buồn phiền, lo lắng thậm chí là đau khổ.  Người vui vẻ không phải là người không có buồn phiền, mà là người không để cho những nỗi buồn và niềm đau ấy khống chế” (St).  Để sống bình an vui vẻ hạnh phúc, chúng ta chỉ cần sống đơn giản.  Chúa Giêsu là người thích sống đơn giản và bình thường.  Suốt ba năm rao giảng, Ngài mặc những chiếc áo, mang những đôi dép giản dị.  Ngài không nghĩ mình là Thiên Chúa, nhưng đã hạ mình trở nên như tôi tớ rửa chân cho các môn đệ, để đến với người nghèo, bệnh nhân và tội nhân.  Chúa Giêsu thích sự đơn sơ và bé nhỏ giữa đời thường.  Bởi vậy, Ngài mới nhắn nhủ các môn đệ: “Thầy bảo thật anh em: nếu anh em không trở lại mà nên như trẻ nhỏ, thì sẽ chẳng được vào Nước Trời ” (Mt 18,4).  Chúa Giêsu đã gieo vào lòng thế giới giá trị của yêu thương và phục vụ trong đơn giản âm thầm.

 Đơn sơ là một đức tính quý báu trong linh đạo “thơ ấu thiêng liêng” của thánh Têrêxa Hài Đồng.  Sống đơn sơ và giản dị.  Đối với những tâm hồn đơn sơ, không cần có những phương thế phức tạp.  Nếp sống của Têrêxa luôn trong sáng, thành thực và tự nhiên.  Con đường thơ ấu thiêng liêng là sống cuộc sống đơn sơ, yêu mến Chúa, hướng tới trọn lành.  Sống đơn giản mới có được tinh thần thanh thoát và nhẹ nhàng, chúng ta mới nhạy bén để sống theo hướng dẫn của Thần Khí chứ không theo xác thịt, vì “anh em được gọi để hưởng tự do.”

 Lm Giuse Nguyễn Hữu An

From: Langthangchieutim

CHẾT VÀ SỐNG LẠI – TGM Giu-se Vũ Văn Thiên 

 TGM Giu-se Vũ Văn Thiên 

Đức Giê-su đã chết và đã sống lại!  Đó là khẳng định của Ki-tô giáo từ hai mươi thế kỷ nay.  Đó cũng là cốt lõi lời rao giảng của Giáo hội Ki-tô, ngay từ những ngày đầu.

 Trước hết, chúng ta phải xác định: Chúa Giê-su đã chết trên cây thập giá.  Bởi lẽ nếu Người không chết, thì không thể nói đến sống lại.  Một người được coi là “sống lại” tức là người trước đó đã chết thực sự.  Trong lịch sử, cũng đã có những lập luận cho rằng Đức Giê-su chỉ chết lâm sàng mà không chết thật, sau đó Người hồi sinh.  Cả bốn tác giả Phúc âm đều khẳng định: Đức Giê-su đã chết khi còn bị treo trên thập giá, và đã được an táng trong mồ.

 Đức Giê-su là Con Thiên Chúa nhập thể làm người.  Người cũng là Thiên Chúa quyền năng.  Vì thế thân xác của Người không bị chi phối theo quy luật vật lý thông thường, và việc Người từ cõi chết sống lại cũng không phải là bất khả thi.  Các tông đồ đều làm chứng, Chúa Giê-su đã sống lại.  Phê-rô vốn là một người dân chài đơn sơ ít học, nhưng đã trở nên can đảm lạ thường.  Trước Công nghị Do Thái, ông dõng dạc khẳng định: Đức Giê-su là Đấng Thiên sai mà Thiên Chúa của Tổ phụ chúng ta đã hứa.  Người đã bị chính quý vị hành hạ, đóng đinh và giết chết.  Thiên Chúa đã làm cho Người phục sinh, như lời Thánh Kinh, và chúng tôi xin làm chứng về điều ấy.  Trước đó, ông cũng công khai giảng dạy trước cử tọa đông đảo khách hành hương về Giê-su-sa-lem nhân ngày lễ Ngũ Tuần.  Bài giảng của ông đầy lửa và Thần Khí, nên đã có ba ngàn người xin theo Đạo. 

Ngay từ thời sơ khai, Giáo hội Ki-tô đã suy tư về cái chết và sống lại của Chúa Giê-su với lăng kính phụng vụ.  Cái chết của Chúa Giê-su đích thực là một hy tế, nhằm tôn vinh Thiên Chúa.  Trên cây thập giá, Đức Giê-su dâng hiến chính thân mình làm của lễ, thay cho những của lễ cũ được quy định bởi Luật Môi-sen, như chiên, cừu, mỡ động vật, máu bò…  Tác giả thư gửi người Híp-ri đã nêu rõ: “Máu các con bò, con dê không thể nào xóa được tội lỗi.  Vì vậy, khi vào trần gian, Đức Ki-tô nói: “Chúa đã không ưa hy lễ và hiến tế, nhưng đã tạo cho con một thân thể.  Chúa cũng chẳng thích lễ toàn thiêu và lễ xá tội.  Bấy giờ con mới thưa: Lạy Thiên Chúa, này con đây.  Con đến để thực thi ý Ngài” (Hr 10,4-7).  Như thế, theo Giáo lý Ki-tô giáo, kể từ cái chết của Chúa Giê-su, nhân loại không cần các hy lễ xưa nữa.  Hy lễ xưa chỉ là hình bóng, nay thực tại đã đến rồi thì hình bóng trở nên lỗi thời và phải nhường bước.  Vì vậy, mà trong bài Ca Thánh Thể (Tantum ergo) chúng ta hát: “hy lễ xưa nhường cho hy lễ mới”; hay bản dịch khác: “Phụng vụ xưa phải được thay, này đây nghi lễ mới”. 

Về điều này, Sách Giáo lý của Hội Thánh Công giáo viết: “Cái chết của Đức Ki-tô đồng thời vừa là hy lễ Vượt qua, mang lại ơn cứu chuộc tối hậu cho loài người, nhờ Con Thiên Chúa, Đấng xóa tội trần gian, vừa là hy lễ của Giao ước mới, cho con người lại được hiệp thông với Thiên Chúa, khi giao hòa con người với Thiên Chúa nhờ máu đổ ra cho muôn người được tha tội” (số 613). 

Thánh Au-gút-ti-nô đã diễn tả rất sinh động và sâu sắc: “Người (Đức Giê-su) không có gì ở nơi mình để chết vì chúng ta, nếu Người đã không nhận lấy xác phàm phải chết của chúng ta.  Như thế, Đấng bất tử đã có thể chết.  Như thế, Người đã muốn ban sự sống cho loài người phải chết: vì chưng với những gì chúng ta có xưa, chúng ta không thể sống; cũng như với những gì là của Người trước kia, Người không thể chết” (Bài đọc II, Kinh Sách thứ Hai Tuần Thánh).  Thánh nhân muốn diễn tả: chết là bản tính của con người.  Con Thiên Chúa vốn không bao giờ chết, nhưng vì yêu thương nhân loại, nên đã mang lấy xác thịt để có thể chết. 

Khi suy tư về cái chết và sự phục sinh của Đức Giê-su, Ki-tô hữu được mời gọi nhận ra cái chết và sống lại của Người nơi chính bản thân mình.  Thánh Phao-lô quảng diễn: “Chúng tôi luôn mang nơi thân mình cuộc thương khó của Đức Giê-su, để sự sống của Đức Giê-su cũng được biểu lộ nơi thân mình chúng tôi” ( 2 Cr 4,10).  Thật là một điều kỳ lạ!  Chấp nhận chết với Chúa, thì có sự sống của Người nơi bản thân.  Khước từ chết với Người, sẽ không được chung phần vinh quang với Người.  Thực ra, nơi con người của chúng ta, sự chết và sự sống luôn hòa quyện đan xen.  Mỗi ngày chúng ta chết đi cho tội lỗi, ích kỷ, gian trá và những điều nhỏ nhen, thì niềm vui, sự an bình và lòng quảng đại lại được sinh ra và lớn lên trong chính tâm hồn và cuộc đời chúng ta.  Lời mời gọi sống lại với Chúa luôn vang lên trong cuộc đời của Ki-tô hữu chúng ta. “Anh em hãy tìm kiếm những gì thuộc thượng giới, nơi Đức Ki-tô đang ngự.”  Đó là những cố gắng nỗ lực của một cuộc đời đã sang trang, muốn chuyển hướng định mệnh tương lai, không còn hướng xuống đất, nhưng hướng lên trời. 

Nếu cái chết của Chúa Giê-su là một hy tế, thì cuộc sống của Ki-tô hữu cũng là một lễ dâng.  Thánh Phao-lô ngỏ lời với các tín hữu Rô-ma: “Thưa anh em, vì Thiên Chúa thương xót chúng ta, tôi khuyên nhủ anh em hãy hiến dâng thân mình làm của lễ sống động, thánh thiện và đẹp lòng Thiên Chúa.  Đó là cách thức xứng hợp để anh em thờ phượng Người” (Rm 12,1).  Vâng, chính những cố gắng hy sinh, những thiện chí và quảng đại, những trách nhiệm của chúng ta đối với tha nhân, với môi trường, với công ích… đều là những của lễ đẹp lòng Chúa, nếu chúng được thực hiện với tâm tình vâng phục của Đức Giê-su.  Đó là cách thức thờ phượng mà Chúa muốn nơi chúng ta. 

Trong cuộc sống hôm nay, cái chết vẫn luôn ám ảnh và hành hạ chúng ta.  Đó không chỉ là cái chết thể lý, mà còn là cái chết tinh thần, cái chết thiêng liêng.  Khi tuyên xưng: “Tôi tin xác loài người ngày sau sống lại, và sự sống đời sau, Ki-tô hữu vừa xác tín vào sự sống lại của ngày tận thể, vừa khẳng định: hôm nay, ở đây, trong bất cứ hoàn cảnh nào, chúng ta có thể sống lại thực sự với Đức Ki-tô, nếu chúng ta cùng chết với Người.

 TGM Giu-se Vũ Văn Thiên

From: Langthangchieutim


 

Thế giới của Margaret Mitchell bỗng thu nhỏ lại chỉ còn bằng một chiếc ghế.

My Lan Pham

Bà bị mắc kẹt trong phòng khách của mình, chỉ còn lại nỗi đau và những cuốn sách và rồi bà đã viết tên mình vào lịch sử.

Năm 1926, thế giới của Margaret Mitchell bỗng thu nhỏ lại chỉ còn bằng một chiếc ghế.

Bà vốn luôn là người không thể ngồi yên ,một nữ nhà báo lao đi trên những con phố Atlanta, săn tin, chạy deadline, sống với nguồn năng lượng mãnh liệt như thể đó là bản chất của mình.

Margaret Mitchell House (2026) 

 

Rồi chấn thương mắt cá chân xảy đến.

Nặng nề.

Kiệt quệ.

Là kiểu cơn đau khiến thời gian trôi theo một cách hoàn toàn khác.

Bỗng chốc, cả vũ trụ của bà co lại.

Sách trở thành lối thoát duy nhất.

Chồng bà, John Marsh, liên tục đến thư viện Atlanta, mang về những chồng sách cao ngất:

  • tiểu thuyết
  • lịch sử
  • tiểu sử
  • bất cứ thứ gì có thể giúp bà thoát khỏi sự bồn chồn

Bà đọc chúng như hít thở oxy, hết cuốn này đến cuốn khác, như thể việc đọc có thể giúp chạy trốn khỏi sự nhàm chán đang dần nuốt chửng mình.

Nhưng rồi ngay cả John cũng bắt đầu để ý.

Một buổi chiều, nửa đùa nửa thật, ông nhìn núi sách đã đọc xong và nói:

“Lạy Chúa, Peggy, em không thể tự viết một cuốn sách thay vì đọc hàng nghìn cuốn như thế sao?”

Đó chỉ là một câu nói buột miệng.

Một lời bông đùa.

Nhưng nó rơi xuống như một hạt giống gặp đúng mảnh đất màu mỡ.

Margaret hay “Peggy” với những người yêu quý bà lớn lên giữa những câu chuyện.

Khi còn nhỏ, bà thường nghe người thân kể về Nội chiến Hoa Kỳ và thời kỳ Tái thiết như thể mọi chuyện chỉ mới xảy ra hôm qua.

Chiến tranh đã kết thúc hàng chục năm trước khi bà ra đời, nhưng dư âm của nó vẫn sống trong mỗi buổi sum họp gia đình, trong những đồn điền hoang tàn, trong từng vết sẹo hằn sâu vào bản sắc miền Nam nước Mỹ.

Giờ đây, bị giam trong căn phòng chỉ còn thời gian và trí tưởng tượng, bà bắt đầu viết.

Bà kéo chiếc máy đánh chữ ra và bắt đầu tạo nên từng cảnh.

Không theo thứ tự thời gian.

Không theo bất kỳ dàn ý gọn gàng nào.

Chỉ là những đợt cảm hứng tuôn trào dữ dội.

Bà viết về một cô gái miền Nam cứng đầu, người từ chối để chiến tranh và nghèo đói hủy diệt mình.

Bà viết về:

  • sự sinh tồn
  • lòng bướng bỉnh
  • tình yêu không thể
  • mất mát đau đớn
  • sự biến đổi dữ dội của cả một thế giới bị lật nhào

Từ những trang viết ấy, Scarlett O’Hara dần hiện ra sống động, phức tạp và không thể quên.

Những dinh thự đồn điền được dựng lên rồi bốc cháy.

Những đạo quân hành quân.

Những gia đình tan vỡ rồi lại tự tái sinh từ tro tàn.

Nhưng Margaret không nói với ai.

Suốt nhiều năm, bà viết trong bí mật, giấu những trang bản thảo vào phong bì và ngăn kéo mỗi khi có khách gõ cửa.

Bản thảo trở thành nỗi ám ảnh riêng tư của bà thứ bà âm thầm nuôi dưỡng giữa những cơn tự nghi ngờ và quyết tâm.

Trong gần 10 năm, gần như không ai biết nó tồn tại.

Cuối cùng, vào năm 1936, bà cho một nhà xuất bản đọc bản thảo ấy.

Khi Gone with the Wind ra mắt, nó bùng nổ.

Độc giả không thể rời mắt.

Câu chuyện sử thi, nhân vật không thể quên, quy mô bao trùm cả một thời đại tất cả khiến nó trở thành một hiện tượng văn hóa tức thì.

Cuốn sách bán hàng triệu bản.

Năm 1937, nó giành giải Pulitzer.

Ba năm sau, bộ phim cùng tên Gone with the Wind ra mắt, đưa câu chuyện đi xa hơn nữa.

Qua nhiều thế hệ, đây vẫn là một trong những bộ phim biểu tượng nhất từng được tạo ra.

Điều bắt đầu từ một câu đùa của người chồng trong lúc bà đang hồi phục sau đau đớn, cuối cùng lại trở thành một trong những tiểu thuyết được đọc nhiều nhất thế kỷ 20.

Nhưng nguồn gốc của nó lại rất con người, rất đẹp:

một người phụ nữ trong đau đớn, cảm thấy mắc kẹt và mất phương hướng, đã bám lấy trí tưởng tượng như một chiếc phao cứu sinh.

Bà không hề biết, khi gõ những trang đầu tiên, rằng câu chuyện ấy sẽ đi qua nhiều thế hệ và nhiều châu lục.

Bà chỉ biết mình có một tiếng nói, những ký ức về các câu chuyện cũ, và khoảng thời gian trống cần được lấp đầy.

Bà đã nghiêm túc với câu đùa của chồng.

Bà biến sự giam cầm thành sáng tạo.

Biến giới hạn thành di sản.

Đôi khi những hành trình phi thường nhất lại bắt đầu từ những khoảnh khắc nhỏ bé và yên lặng nhất:

một chấn thương, một chiếc máy đánh chữ, và một người nhìn thấy trong bạn nhiều hơn chính bạn nhìn thấy ở mình.

Margaret Mitchell đã dành cả thập kỷ để viết về một người phụ nữ không bao giờ đầu hàng dù mọi thứ tuyệt vọng đến đâu.

Thật ra, bà đang viết về chính mình.

Và thế giới đã đọc bà từ đó cho đến tận hôm nay.

Câu mình thích nhất:

Bà biến giới hạn thành di sản.

Đây đúng là một bài học rất đẹp về việc biến đau đớn thành sáng tạo.

Theo Remember The Past

My Lan Phạm


 

CHÚA GIÊ-SU CHIẾN THẮNG TỬ THẦN – Linh mục Inhaxiô Trần Ngà

 Linh mục Inhaxiô Trần Ngà

  (Suy niệm lễ Phục sinh) 

 Tất cả mọi người trên thế giới thuộc đủ mọi chủng tộc, quốc gia, tôn giáo, ở bất kỳ thời đại nào, từ xưa cũng như hiện nay… đều có một kẻ thù chung hết sức nguy hại và rất đáng sợ.

 Kẻ thù đó là ai ? 

 Đó là sự chết, thường được người đời đặt cho nó một danh hiệu khủng khiếp là thần Chết. 

 Đúng thế, thần Chết là kẻ thù chung của nhân loại, là kẻ thù truyền kiếp của loài người và nhân loại đã đồng tâm hiệp lực trong việc đẩy lui hoặc diệt trừ thần Chết càng sớm càng tốt. 

 Suốt dòng lịch sử loài người, nhân loại đã đem hết tài năng, trí tuệ, công sức của mình để bào chế thuốc men, tìm kiếm đủ thứ phương thức trị liệu, nghiên cứu những phương thuốc trường sinh… nhằm kéo dài tuổi thọ, nhằm đẩy lùi sự chết, nhưng đã hoàn toàn thất bại trước thần Chết

Thế thì biết cậy dựa vào ai để đánh bại kẻ thù chung này? Ai là siêu nhân trên địa cầu này có thể tiêu diệt hay đẩy lùi thần Chết?  

 Thưa, chỉ có một Đấng duy nhất có thể đánh bại thần Chết mà thôi. Vị này là một Con Người nhưng đồng thời cũng là Thiên Chúa, đó là Chúa Giê-su.  

 Chúa Giê-su chiến thắng Thần Chết khi đến thành Na-in, Ngài thấy người ta khiêng đi chôn người thanh niên con trai một bà goá; mặc dù anh này đã lọt vào tay Tử thần nhưng Chúa Giê-su vẫn dành lại được, đưa anh về với thế giới người sống (Lc 7, 11-17). 

 Chúa Giê-su chiến thắng thần Chết khi làm cho con gái ông Giai-rô, mặc dù bé đã chết, Ngài vẫn đưa bé trở về với cuộc sống (Mc 15, 21-43). 

 Chúa Giê-su chiến thắng thần Chết khi La-da-rô đã nằm trong họng thần Chết 4 ngày rồi, vậy mà Chúa Giê-su vẫn giải cứu anh khỏi móng vuốt tử thần để cho anh được sống (Ga 11, 1-45). 

 Và đặc biệt là trong cuộc khổ nạn của Chúa Giê-su, tử thần tưởng đã tiêu diệt Chúa Giê-su, hạ đo ván Chúa Giê-su, khiến Ngài phải tắt thở trên thập giá, rồi bị mai táng trong mồ… Các môn đệ của Ngài tỏ ra tuyệt vọng vì chủ tướng của mình đã thảm bại trước thần Chết. Thần Chết tưởng là đã chiến thắng Chúa Giê-su. Thế nhưng nó đã lầm. Chúa Giê-su đã sống lại trong vinh quang và mở đường vào thiên quốc. 

 Thế là từ đây, một trang sử mới bắt đầu, một kỷ nguyên mới khởi sự, đó là kỷ nguyên Chúa Giê-su chiến thắng tử thần và giải thoát muôn người khỏi tai ách của nó, không những giải thoát mà còn đưa muôn người vào cõi sống đời đời vinh quang bất diệt. 

 Cuộc chiến thắng oanh liệt của Chúa Giê-su trước tử thần đem lại cho chúng ta nhiều hy vọng và niềm vui vô cùng lớn lao như lời Thánh Phao-lô nói:

 Nhờ Chúa Giê-su chiến thắng thần Chết, “cái thân xác phải hư nát này sẽ mặc lấy sự bất diệt; và cái thân phải chết này sẽ mặc lấy sự bất tử. Và “sẽ ứng nghiệm lời Kinh thánh sau đây: Tử thần đã bị chôn vùi…  Hỡi tử thần, đâu là chiến thắng của ngươi? Hỡi tử thần, đâu là nọc độc của ngươi? … Hãy tạ ơn Thiên Chúa, vì Ngài đã cho chúng ta chiến thắng sự chết nhờ Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta (I Cr 15, 54- 57). 

 Lạy Chúa Giê-su, 

Chúa đã chiến thắng thần Chết, đã giải thoát chúng con khỏi móng vuốt tử thần và mở cửa thiên đàng cho chúng con. Chúng con xin tôn vinh chúc tụng Chúa. Chúng con tôn thờ Chúa là chủ tướng của chúng con. Xin cho chúng con bền tâm theo Chúa đến cùng, tuân giữ luật mến Chúa yêu người như Chúa đã dạy, để được Chúa dẫn vào cõi phúc đời đời vinh hiển. Amen. 

 Linh mục Inhaxiô Trần Ngà

From: ngocnga_12 & NguyenNThu


 

Chúa Giêsu có chết thật không?- Cha Vương

Chúc bạn ngày thứ 2 trong tuần Bát Nhật Phục Sinh thật mạnh mẽ trong đức tin nhé. Nhớ nhau trong cầu nguyện và cả thế giới nhé

Cha Vương

Thứ 2: 06/04/2026.  (n18-22)

GIÁO LÝ: Chúa Giêsu có chết thật không? Hay Người chỉ “làm bộ chết” để còn sống lại ? Chúa Giêsu thực sự đã chết trên Thánh giá. Xác Người đã được chôn táng. Tất cả các tài liệu gốc viết về Người đều chứng minh điều này. (YouCat, số 103) 

SUY NIỆM: Theo Gioan (19, 33,) quân lính nhận thấy rõ ràng Chúa Giêsu đã chết. Một lưỡi đòng đâm thủng cạnh sườn Chúa và họ thấy nước cùng máu chảy ra. Cần phải nói thêm là người ta đã đánh dập ống chân của hai người khác bị đóng đinh, đây là biện pháp để làm cho họ chết mau hơn – nhưng điều này không cần thiết đối với Chúa Giêsu vì Người đã chết. (YouCat, số  103 t.t.)

❦ Tấm khăn liệm xác Chúa, được giữ tại Turin là một tấm khăn vải lanh ở thế kỷ I. Năm 1898 tấm khăn được chụp hình lần đầu bởi một người ở Turin. Nhìn âm bản của phim, người ta thấy in trên vải sợi lanh một hình ảnh bí nhiệm của một người bị tử hình thời cổ.

LẮNG NGHE: Trước hết, tôi đã truyền lại cho anh em điều mà chính tôi đã lãnh nhận, đó là: Đức Ki-tô đã chết vì tội lỗi chúng ta, đúng như lời Kinh Thánh, rồi Người đã được mai táng, và ngày thứ ba đã trỗi dậy, đúng như lời Kinh Thánh. (1 Cr 15:3-4)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, Chúa đã đánh bại thần chết để khai đường mở lối cho con vào cuộc sống muôn đời, xin giúp con biết từ bỏ những quyến rũ gian tà của Xa-tan để sống một cuộc đời tràn ngập ánh sáng Đấng Phục Sinh.

THỰC HÀNH: Đọc 3 Kinh Kính Mừng và một Kinh Vực Sâu cầu nguyện cho linh hồn ông bà nội ngoại của bạn hôm nay nhé, xin cho họ được nghỉ ngơi muôn đời trong tay Chúa Phục Sinh.

From: Do Dzung

*********************

Chúa Sống Lại Rồi (Sáng tác: Lm. Thành Tâm) – Phan Đinh Tùng

Đức Giáo Hoàng Leo XIV vác đường thánh giá, trao gửi bài học về quyền lực

Đức Giáo Hoàng Leo XIV vác đường thánh giá , trao gửi bài học về quyền lực

Elise Ann Allen  /  Apr 4, 2026

 https://cruxnow.com/…/pope-leo-xiv-walks-the-way-of-the…

Đức Giáo hoàng Leo XIV đã chủ trì nghi thức sùng kính Đàng Thánh Giá truyền thống vào ngày Thứ Sáu Tuần Thánh; chính Ngài đã tự mình vác Thánh Giá suốt cả chặng đường tại Đấu trường Colosseum ở Rome,trong khi những lời suy niệm liên tục được cất lên, phản ảnh về ý nghĩa của quyền lực đích thực—thứ quyền lực bắt nguồn từ sự khiêm nhường và tinh thần phục vụ, chứ không phải từ vũ lực hay sự thống trị.

 Bài suy niệm tại chặng thứ nhất—trong số mười bốn chặng của nghi thức Đàng Thánh Giá truyền thống mùa Chay—đã khẳng định rằng, trong khoảnh khắc bị kết án tử hình, Chúa Giêsu đã “vạch trần mọi sự ngạo mạn của con người về quyền lực.”

 “Ngay cả trong thời đại ngày nay, vẫn có những kẻ tin rằng quyền bính của họ là vô hạn, và cho rằng họ có thể sử dụng hay lạm dụng quyền lực ấy theo ý thích của riêng mình,” bài suy niệm viết; đồng thời dẫn chiếu đến Thánh Phanxicô Assisi như một lời nhắc nhở rằng: “mọi người nắm giữ quyền bính đều sẽ phải chịu trách nhiệm trước Thiên Chúa về cách thức mà họ thực thi quyền lực của mình.”

 Bài suy niệm chỉ rõ rằng quyền lực này bao gồm: “quyền phán xét; quyền khởi xướng hoặc chấm dứt chiến tranh; quyền gieo rắc bạo lực hay kiến ​​tạo hòa bình; quyền khơi dậy lòng thù hận hay thúc đẩy sự hòa giải; quyền sử dụng nền kinh tế để áp bức con người hay giải phóng họ khỏi cảnh lầm than; quyền chà đạp lên phẩm giá con người hay tôn vinh phẩm giá ấy; và quyền cổ võ, bảo vệ sự sống, hay khước từ và hủy diệt sự sống.”

 Tương tự như vậy, Thiên Chúa mời gọi mỗi người chúng ta phải đối mặt trả lời về thứ quyền lực mà ta thực thi trong đời sống thường nhật—bài suy niệm nhấn mạnh; đồng thời trích dẫn lời Chúa Giêsu trong Kinh Thánh: “Hãy sử dụng cách hữu ích quyền lực đã được trao ban cho các con; và hãy ghi nhớ rằng: bất cứ điều gì các con làm cho một con người khác—đặc biệt là những kẻ bé nhỏ và yếu thế—thì chính là các con đang làm cho Ta. Và chính trước mặt Ta, một ngày nào đó, các con sẽ phải biện bạch khi bị phán xét.”

 Bài suy niệm khép lại bằng một lời cầu nguyện, xin Chúa Giêsu nhắc nhở nhân loại rằng Ngài luôn đồng hóa chính mình với “mọi con người đang phải chịu sự phán xét”; và xin cho các Kitô hữu đừng để mình bị dẫn dắt bởi những định kiến, mà thay vào đó hãy nhận thức sâu sắc rằng: “quyền lực đích thực nằm nơi tình yêu thương; rằng lòng thương xót luôn chiến thắng sự phán xét; và rằng điều thiện hảo phải luôn được lựa chọn, ngay cả khi việc lựa chọn ấy đòi hỏi một sự hy sinh đắt giá.”

 Vị Giáo hoàng cuối cùng đã tự mình vác Thánh Giá suốt trọn vẹn mười bốn chặng của cuộc rước truyền thống này là Đức Giáo hoàng Thánh Gioan Phaolô II; Ngài đã thực hiện điều đó liên tục từ năm 1979 đến năm 1994, trước khi bắt đầu chỉ vác Thánh Giá trong một số chặng nhất định của nghi thức này kể từ năm 1995.

 Cả Đức Giáo hoàng Bênêđictô XVI lẫn Đức Giáo hoàng Phanxicô đều đã đảm nhận việc vác Thánh Giá trong một số chặng của cuộc rước này suốt thời gian trị vì của các Ngài, cho đến khi tuổi cao sức yếu và tình trạng sức khỏe suy giảm không còn cho phép các Ngài tiếp tục thực hiện điều đó nữa.

Năm nay đánh dấu lần đầu tiên trong suốt ba thập kỷ, một vị Giáo hoàng tự mình vác Thánh giá trong trọn vẹn cuộc rước.

 Các bài suy niệm cho nghi thức Via Crucis năm nay được soạn thảo bởi Linh mục dòng Phanxicô Francesco Patton—cựu Giám quản Thánh Địa—và tập trung làm nổi bật sự khác biệt giữa quyền lực nhân thế và quyền lực thiêng liêng; qua đó đối lập lòng khao khát thống trị của con người với sự khiêm hạ, tinh thần phục vụ và lòng hy sinh quên mình của Chúa Giêsu. 

Lưu ý rằng năm nay đánh dấu kỷ niệm 800 năm ngày mất của Thánh Phanxicô Assisi, linh mục Patton phát biểu rằng lời cầu nguyện này không chỉ dành cho những người sùng đạo hay những ai tìm kiếm sự tĩnh lặng để suy ngẫm, mà còn là một minh chứng cho thấy đức tin, đức cậy và đức mến cần phải được lan tỏa giữa một thế giới đầy hỗn loạn và ồn ào. 

Trong những lời suy niệm của mình, linh mục Patton nhấn mạnh sự khiêm hạ của Chúa Giêsu – không chỉ ở việc Ngài không hề sợ hãi khi đón nhận cây thập giá, mà còn ở việc Ngài đã ngã xuống đất. 

“Dù là Thiên Chúa, Ngài đã trút bỏ vinh quang của mình để trở thành con người. Dù vốn giàu sang, Ngài đã trở nên nghèo khó,” ông nói, đồng thời cầu xin Thiên Chúa giúp các Kitô hữu “lựa chọn một cuộc sống phục vụ khiêm hạ, thay vì chạy theo sự nổi danh và quyền lực thống trị.” 

Khi suy ngẫm về cuộc gặp gỡ giữa Chúa Giêsu và Mẹ Maria, linh mục Patton bày tỏ nỗi xót xa rằng: cũng giống như Mẹ Maria – người đã tận mắt chứng kiến ​​con mình trút hơi thở cuối cùng – “có quá nhiều người mẹ… đang phải chứng kiến ​​cảnh con cái mình bị bắt bớ, tra tấn, kết án và sát hại.” 

“Xin ban cho chúng con một trái tim của người mẹ, để chúng con biết thấu hiểu và sẻ chia những nỗi đau khổ của tha nhân; và nhờ đó, chúng con cũng học được ý nghĩa đích thực của tình yêu thương,” ông cầu nguyện. 

Khi suy ngẫm về việc ông Simon người Cyrene đã giúp Chúa Giêsu vác thập giá, linh mục Patton đã cầu nguyện cho những tình nguyện viên đang trợ giúp những người gặp phải “tình cảnh vô cùng ngặt nghèo” – những người đang cung cấp lương thực, thuốc men, giáo dục “và cả công lý” cho những ai đang lâm vào hoàn cảnh khó khăn.

 Khi chiêm ngắm cử chỉ bà Veronica lau khuôn mặt Chúa Giêsu, linh mục Patton cầu xin cho các Kitô hữu ngày nay – cũng giống như bà Veronica xưa kia – biết cách lau đi khuôn mặt của Chúa Giêsu; một khuôn mặt “vẫn còn vương đầy bụi đất và máu huyết, vẫn còn bị biến dạng bởi mọi hành vi chà đạp lên phẩm giá con người.” 

Ông cầu nguyện xin Chúa Giêsu giúp nhân loại nhận ra hình ảnh của Ngài “nơi mỗi con người đang bị định kiến ​​kết án; nơi những người nghèo khổ đang bị tước đoạt phẩm giá; nơi những người phụ nữ đang là nạn nhân của nạn buôn người và nô dịch hóa; (và) nơi những trẻ thơ đang bị đánh cắp tuổi thơ và bị hủy hoại tương lai.” 

Nhấn mạnh sự khiêm hạ của Chúa Giêsu qua lần ngã xuống thứ hai, linh mục Patton chia sẻ rằng khi Chúa Giêsu chấp nhận để bản thân ngã xuống, Ngài làm điều đó “chính là để nâng chúng ta dậy sau những lần vấp ngã của chính mình.”

 “Ngài làm như vậy để nâng dậy những ai đang bị chà đạp xuống đất bởi sự bất công, bởi sự dối trá, bởi mọi hình thức bóc lột và bạo lực, và bởi nỗi khốn cùng do một nền kinh tế gây ra—một nền kinh tế chỉ tìm kiếm lợi nhuận cá nhân thay vì lợi ích chung,” ông nói. 

Linh mục Patton cũng nhấn mạnh sự gần gũi của Chúa Giêsu đối với nhân loại trong những lúc yếu đuối, khi nói rằng: “Không có sự sa ngã nào của chính chúng ta mà trong đó Ngài lại không ở bên cạnh chúng ta… Tình yêu, sự tha thứ và lòng thương xót của Ngài lớn lao vô cùng so với sự yếu đuối mỏng manh của chúng ta.”

 Tại Chặng thứ Tám—khi Chúa Giêsu gặp gỡ những người phụ nữ thành Giêrusalem—linh mục Patton đã đưa ra một bài suy niệm dài về vai trò của phụ nữ; ông lưu ý rằng phụ nữ luôn hiện diện “bất cứ nơi nào có sự đau khổ hoặc nhu cầu cần thiết,” cho dù đó là bệnh viện hay viện dưỡng lão, các trung tâm dành cho người khuyết tật, các cơ sở nuôi dưỡng trẻ mồ côi và trẻ cần sự bảo trợ, hay các trường học và phòng khám tại những vùng đất truyền giáo xa xôi hẻo lánh.

 Ông nói rằng phụ nữ thường là những người “chăm sóc những người bị thương và an ủi những người sống sót tại các vùng chiến sự và khu vực xung đột.” 

“Trong suốt nhiều thế kỷ qua, họ đã khóc thương cho chính bản thân mình và cho con cái của họ—những đứa trẻ bị bắt đi và giam cầm trong các cuộc biểu tình, bị trục xuất bởi những chính sách thiếu vắng lòng trắc ẩn, bị đắm tàu ​​trên những hành trình tìm kiếm hy vọng đầy tuyệt vọng, bị sát hại tại các vùng chiến sự, và bị thảm sát tại các trại tử thần,” ông chia sẻ. 

Ông cầu nguyện xin Chúa ban cho nhân loại một trái tim giàu lòng trắc ẩn và khả năng cảm thông với nỗi đau khổ của người khác, thay vì cứ mãi dửng dưng vô cảm. 

Tại chặng đường này, linh mục Patton cầu xin Chúa ban cho nhân loại hồng ân của những giọt nước mắt: “Để khóc thương sự tàn phá của chiến tranh; để khóc thương những cuộc thảm sát và diệt chủng; để khóc cùng những người mẹ và người vợ; để khóc thương sự hoài nghi và vô cảm của những kẻ nắm quyền; và để khóc thương chính sự dửng dưng của chúng ta.” 

Khi Chúa Giêsu bị lột bỏ y phục tại Chặng thứ Mười, linh mục Patton nhận định rằng hành động này là một nỗ lực “nhằm làm nhục” Ngài và tước đoạt phẩm giá của Ngài.

 “Sự xâm phạm này vẫn đang lặp đi lặp lại hết lần này đến lần khác ngay cả trong thời đại ngày nay: khi các chế độ độc tài buộc tù nhân phải ở trong tình trạng bán khỏa thân giữa những phòng giam trần trụi hoặc ngoài sân trại giam; khi những kẻ tra tấn không chỉ xé toạc y phục mà còn xé nát cả da thịt của nạn nhân; và khi các nhà chức trách cho phép những hình thức giám sát và xâm phạm đời tư, bất chấp mọi phẩm giá con người,” ông nói. Ông cũng cho biết, điều này lại tiếp diễn “khi những kẻ hiếp dâm và lạm dụng biến nạn nhân của mình thành những vật thể đơn thuần; khi ngành công nghiệp giải trí lợi dụng sự khỏa thân vì mục đích lợi nhuận; khi giới truyền thông phơi bày các cá nhân trước dư luận; và thậm chí ngay cả khi chính chúng ta—do sự tò mò của mình—đã không tôn trọng sự kín đáo, sự riêng tư và đời sống cá nhân của người khác.” 

Ông cầu nguyện rằng những ai không nhận ra phẩm giá của người khác và không đối xử với họ theo tình người những người này sẽ được nhắc nhở rằng, khi làm như vậy, “phẩm giá của chính chúng ta bị suy giảm” và “chính chúng ta trở nên kém nhân bản hơn.” 

Khi suy ngẫm về việc Chúa Giê-su bị đóng đinh trên thập tự giá, linh mục Patton nói rằng Người đã bị đối xử như một tên tội phạm nhưng lại được ban cho tước hiệu vương giả; qua đó, Người đã minh chứng cho “thế nào là quyền lực đích thực.” 

“Đó không phải là quyền lực của những kẻ tin rằng mình có thể định đoạt sinh mạng người khác bằng cách tước đi sự sống của họ; mà là quyền lực của những ai thực sự có thể chiến thắng cái chết bằng cách trao ban sự sống—và thậm chí có thể trao ban sự sống ngay cả khi chấp nhận cái chết,” ông phát biểu.

 Ông khẳng định rằng quyền lực đích thực không thuộc về những kẻ “sử dụng vũ lực và bạo tàn để áp đặt ý chí của mình lên người khác”; trái lại, quyền lực ấy thuộc về những ai “có khả năng gánh lấy những điều ác của nhân loại… và tiêu diệt chúng bằng sức mạnh của tình yêu thương—sức mạnh được biểu lộ qua sự tha thứ.” 

“Chúng ta không tìm đến thứ quyền lực giả tạo của các đạo quân, mà tìm đến sự bất lực tưởng chừng như hiển nhiên của tình yêu thương,” linh mục Patton nói. Ông cho rằng các Kitô hữu cũng cần phải “học cách tha thứ vì tình yêu thương, và học cách đón nhận những gian nan của cuộc đời trong sự bình an; bởi lẽ, thứ chiến thắng không phải là lòng khao khát quyền lực, mà chính là sức mạnh của tình yêu thương.”

 Trong bài suy niệm tại Chặng thứ mười ba—chặng Chúa Giê-su được hạ xuống khỏi thập tự giá—linh mục Patton nhận định rằng hành động ấy là một biểu hiện của lòng trắc ẩn, đồng thời là sự thừa nhận phẩm giá con người nơi Chúa Giê-su. 

“Không bao giờ được phép để thi hài của con người bị bỏ mặc vô thừa nhận hoặc không được chôn cất tử tế. Những người mẹ, thân nhân và bạn hữu của những người bị kết án không bao giờ được buộc phải hạ mình quỳ lụy trước các nhà chức trách chỉ để xin nhận lại thi hài bầm dập của những người thân yêu,” ông nhấn mạnh. 

Ngay cả khi đã qua đời, thi hài con người vẫn giữ trọn phẩm giá của mình; do đó, “thi hài ấy không được phép bị xúc phạm, bị che giấu, bị hủy hoại, bị giữ lại hoặc bị từ chối quyền được chôn cất theo nghi thức xứng hợp,” ông nói, đồng thời khẳng định rằng nguyên tắc này cũng hoàn toàn đúng đối với cả những kẻ đã bị kết án hình sự.

 Ông cầu nguyện xin Chúa Giê-su dạy cho nhân loại biết sống với lòng trắc ẩn, để nhờ đó: “Chúng ta có thể cảm thấu nỗi đau khổ của những người tù; Chúng ta có thể đứng trong tình liên đới với các tù nhân chính trị; Chúng ta có thể thấu hiểu nỗi thống khổ của thân nhân các con tin; Chúng ta có thể khóc thương cho những ai đã bỏ mình dưới đống đổ nát; Và chúng ta có thể bày tỏ lòng tôn kính đối với tất cả những người đã khuất.” Các bài suy niệm khép lại bằng lời tạ ơn Chúa Giê-su khi suy ngẫm về Chặng thứ mười bốn — lúc Chúa Giê-su được đặt vào mộ — vì Ngài đã “ban cho chúng ta một nền tảng vững chắc cho niềm hy vọng về sự sống đời đời.”

 Elise Ann Allen  /  Apr 4, 2026

 *****

Pope Leo XIV led the traditional Via Crucis devotion on Good Friday, carrying the cross himself the whole way at the Colosseum in Rome, as a running reflection was offered on the meaning of real power as rooted in humility and service, rather than force or dominance.

The meditation for the first station of the fourteen stations of the traditional Lenten Way of the Cross said that Jesus in his condemnation to death “unmasked every human presumption of power.”

“Even today, there are those who believe their authority is limitless, thinking they may use or abuse it at their whim,” it said, pointing to Saint Francis of Assisi as a reminder that “every person in authority will have to answer to God for the way they exercise their power.”

This power, it said, includes “the power to judge; the power to start or end a war; the power to instill violence or peace; the power to fuel the desire for revenge or for reconciliation; the power to use the economy to oppress people or to liberate them from misery; the power to trample on human dignity or to uphold it; and the power to promote and defend life, or reject and stifle it.”

Likewise, each person is asked by God to give an account for the power they exercise in their daily lives, the meditation said, quoting Jesus in scripture, who said, “Make good use of the power given to you, and remember that whatever you do to another human being, especially to the small and vulnerable, you do unto me. And it is to me that you will one day give an account.”

The meditation closed with a prayer that Jesus would remind humanity that he identifies with “every person who is judged,” and that Christians would not be guided by prejudice, realizing instead that “power consists in love: That mercy triumphs over judgment: That the good must be chosen even when it comes at a cost.”

The last pontiff to carry the Cross for the entire fourteen-station procession was Pope St. John Paul II, who did so from 1979 through 1994, and in 1995 began carrying the Cross only for portions of the devotion.

Both Benedict XVI and Francis led portions of the procession during their pontificates, until frailty and ill health prevented them. This year was the first time in three decades that a pope carried the Cross for the entire procession.

Meditations for this year’s Via Crucis were written by Franciscan Father Francesco Patton, former Custos of the Holy Land, and focused on the distinction between human and divine power, contrasting humanity’s lust for dominance with Jesus’s humility and sense of service and self-sacrifice.

Noting that this year marks the 800th anniversary of St. Francis of Assisi’s death, Patton said the prayer is not just for the pious and those looking for quiet reflection, but is a demonstration that faith, hope and charity must be conveyed in a chaotic and noisy world.

In his meditations, Patton underlined Jesus’s humility, in being unafraid to embrace the cross, but also in falling to the ground.

“Though you are God, you divested yourself of your glory to become man. Rich as you were, you became poor,” he said, asking God to help Christians “choose a life of humble service rather than seeking prominence and dominance.”

Reflecting on Jesus’s encounter with his mother Mary, Patton lamented that, like Mary who watched her son die, “too many mothers…see their children arrested, tortured, condemned and killed.”

“Grant us a maternal heart, that we may understand and share in the suffering of others, and learn, in this way too, what it truly means to love,” he said.

Patton prayed, in reflecting on Simon of Cyrene helping Jesus carry his cross, for those who volunteers who assist people in “extreme situations,” providing food, medicine, education “and justice” to those in situations of difficulty.

Contemplating Veronica’s act of wiping Jesus’s face, Patton prayed that Christians today would, like Veronica, be also capable of wiping Jesus’s face, “still covered with dust and blood, still disfigured by every act that tramples upon the dignity of the human person.”

He prayed that Jesus would help humanity recognize his image “in every person condemned by prejudice; In the poor deprived of their dignity; In women who are victims of trafficking and enslavement; (and) In children whose childhood has been stolen and whose future has been compromised.”

Highlighting Jesus’s humility by falling a second time, Patton said that when Jesus allowed himself to fall, he did so “in order to lift us up from our own falls.”

“You do so to raise up those who are crushed to the ground by injustice, by falsehood, by every form of exploitation and violence, and by the misery produced by an economy that seeks individual profit rather than the common good,” he said.

Patton also stressed Jesus’s closeness to humanity in times of weakness, saying, “there is no fall of our own in which you are not beside us…Your love, forgiveness and mercy are infinitely greater than our frailty.”

During the eighth station, when Jesus meets the women of Jerusalem, Patton offered a lengthy reflection on the role of women, noting that women are present “wherever there is suffering or need,” whether it be a hospital or nursing home, centers for the disabled, foster care and orphanages, and schools and clinics in remote mission lands.

Women, he said, are often the ones “tending to the wounded and comforting survivors in war zones and areas of conflict.”

“For centuries, they have wept for themselves and for their children, children taken away and imprisoned during protests, deported by policies devoid of compassion, shipwrecked on desperate journeys of hope, killed in war zones, and wiped out in death camps,” he said.

He prayed that God would give humanity a compassionate heart and the ability to be sympathetic to the suffering of others, rather than remaining indifferent.

In that station Patton prayed that God would give humanity the gift of tears, “To weep over the devastation of war; To weep for massacres and genocides; To weep with mothers and wives; To weep over the cynicism of the powerful; To weep over our own indifference.”

When Jesus is stripped of his garments in the tenth station, Patton said this act was an attempt “to humiliate” him and strip him of his dignity.

“This violation is repeated time and again even today: when authoritarian regimes force prisoners to remain half-naked in bare cells or courtyards; when torturers tear away not only clothing but also skin and flesh; when authorities permit forms of surveillance and intrusion that disregard human dignity,” he said.

It is also repeated, he said, “when rapists and abusers reduce their victims to mere objects; when the entertainment industry exploits nudity for the sake of profit; when the media exposes individuals to public opinion; and even when we ourselves, through our curiosity, fail to respect the modesty, intimacy and privacy of others.”

He prayed that those who fail to recognize the dignity of others and treat them humanly would be reminded that in doing so, “our own dignity is diminished” and “we ourselves become less human.”

Reflecting on Jesus being nailed to the cross, Patton said he was treated like a criminal but given the title of royalty, thus demonstrating “what true power is.”

“Not the power of those who believe they can dispose of the lives of others by putting them to death, but the power of those who can truly conquer death by giving life, and who can give life even by accepting death,” he said.

True power, he said, is not that of those “who use force and violence to impose themselves,” but it is father “that of those who are capable of taking upon themselves the evil of humanity…and destroying it with the power of love that is manifest in forgiveness.”

“You do not resort to the supposed power of armies, but to the apparent powerlessness of love,” Patton said, saying if Christians must also “learn to forgive for love of you and to bear the difficulties of life in peace, because it is not love of power that conquers, but the power of love.”

Patton in the meditation for the thirteenth station, when Jesus is taken down from the cross, said the act is one compassion and is a recognition of Jesus’s human dignity.

“There should never be bodies left unclaimed or unburied. Mothers, relatives and friends of the condemned should never be forced to abase themselves before authorities in order to recover the battered remains of their loved ones,” he said.

Even in death, the body retains its dignity and therefore “must not be desecrated, hidden, destroyed, withheld or denied a proper burial,” he said, saying this is also true of convicted criminals.

He prayed that Jesus would teach humanity to have compassion so that “we may feel the suffering of prisoners; That we may stand in solidarity with political prisoners; That we may understand the anguish of the families of hostages; That we may mourn those who have died beneath the rubble; That we may show respect for all the dead.”

The meditations closed with a word of thanks to Jesus in reflecting on the fourteenth station, when Jesus is laid in the tomb, for having “bestowed upon us a firm foundation for our hope of eternal life.”

 Elise Ann Allen 

Apr 4, 2026

 From: taberd & NguyenNThu


 

MỘT LẦN QUAY KHÁC-Lm. Minh Anh,Tgp. Huế

Lm. Minh Anh,Tgp. Huế

“Bà quay lại và thấy Đức Giêsu đứng đó, nhưng bà không biết là Đức Giêsu”.

“Đức Giêsu được thấy; nhưng chưa được nhận biết!” – Origen.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay cho biết, Maria thấy; nhưng không nhận ra. Không phải vì cô thiếu ánh sáng; nhưng vì việc nhận ra không đến từ cái nhìn, mà từ một tương quan. Cùng một cử chỉ quay lại; nhưng không cùng một nhận thức – vì thế, cần ‘một lần quay khác!’.

Thật thú vị, trong bản văn Gioan, convertere – “quay lại” – được nhắc đến hai lần nhưng không cùng một chuyển động: “conversa est” và “conversa” – Maria quay lại và lại quay. Lần thứ nhất, cô quay nhưng không nhận ra; lần thứ hai, cô quay và nhận ra. Không phải vì thay đổi vị trí; nhưng vì thay đổi tương quan. Với Gioan, nhận ra không đến từ cái nhìn; nhưng từ một hiện diện được mở ra. Đó cũng là kinh nghiệm của chúng ta: có những lần chúng ta đã quay; nhưng vẫn ở lại trong cách hiểu cũ, trong những mất mát… chỉ vì thiếu một cách quay khác – ‘một lần quay khác’ về một Đấng rất gần. “Thiên Chúa gần tôi hơn chính tôi!” – Augustinô.

Maria không nhận ra, không phải vì thiếu dữ kiện; nhưng vì đặt sai câu hỏi. Cô tưởng Chúa Giêsu là người làm vườn. Một chi tiết nhỏ; nhưng không vô nghĩa: khu vườn là nơi của sự sống, không phải nghĩa địa của cái chết. Nhưng trước mắt cô vẫn chỉ là một ngôi mộ; và cô hỏi: “Ông để Người ở đâu?” – một câu hỏi về một xác chết có thể bị di chuyển. Maria không hoàn toàn sai; nhưng vẫn chưa đủ để nhận ra Thầy. Như Đức Phanxicô nhắc, khi đánh mất khu vườn, con người đánh mất chính mình! Khi câu hỏi sai, mọi câu trả lời đều trượt. Vì thế, không phải chỉ cần quay; còn phải bỏ đi câu hỏi sai.

May thay – “Maria!”. Không phải một dữ kiện mới; nhưng là một lời gọi. Không thêm điều gì vào điều cô đã thấy; nhưng đặt cô lại trong một hiện diện. Với Gioan, nhận biết không đến từ việc biết thêm; nhưng từ việc được gọi đúng chỗ của mình; không phải đổi cảnh; nhưng đổi vị trí của mình trước Chúa. Ngài gọi tên từng con chiên. Vì thế, không phải sửa lại câu hỏi; nhưng là được gọi trở lại. Nhận ra không bắt đầu từ mắt; nhưng từ một tiếng gọi chạm tới chính mình – từ đó, ‘một lần quay khác’ thay đổi mọi sự. “Tình yêu tự nó là nhận biết!” – Grêgôriô Cả.

Anh Chị em,

Nơi Đức Kitô, quay lại là quay về với Cha. Không theo Satan nơi hoang địa; không chiều nó để gieo mình từ nóc đền thờ; cũng không nán lại để được tôn làm vua. Ngài không quay theo điều dễ; nhưng theo ý Đấng sai mình. Và chính trong lần quay cuối cùng lên núi Sọ, ơn cứu độ nở hoa. Từ đó, lần quay của Ngài trở thành con đường. Với chúng ta, quay về; quay nhiều; nhưng vẫn giữ lại những tính toán cũ, những vết thương chưa chịu buông. Vì thế, vẫn ở lại chốn xưa. Chỉ khi dám quay như Chúa Giêsu – không theo điều thuận, nhưng theo Cha – thì lần quay của chúng ta mới thành lối. “Chiên của tôi thì nghe tiếng tôi; tôi biết chúng, và chúng theo tôi!” – Ga 10, 27.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin cho con nhận ra tiếng Chúa giữa bao tiếng khác; thuộc về Chúa giữa những điều khác; và khi lạc hướng, cho con biết quay về!”, Amen.

Lm. Minh Anh,Tgp. Huế

*******************************************************

Lời Chúa Thứ Ba Tuần Bát Nhật Phục Sinh

Tôi đã thấy Chúa, và Người đã nói với tôi.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.      Ga 20,11-18

11 Khi ấy, bà Ma-ri-a Mác-đa-la đứng ở ngoài, gần bên mộ, mà khóc. Bà vừa khóc vừa cúi xuống nhìn vào trong mộ, 12 thì thấy hai thiên thần mặc áo trắng ngồi ở nơi đã đặt thi hài của Đức Giê-su, một vị ở phía đầu, một vị ở phía chân. 13 Thiên thần hỏi bà : “Này bà, sao bà khóc ?” Bà thưa : “Người ta đã lấy mất Chúa tôi rồi, và tôi không biết họ để Người ở đâu !” 14 Nói xong, bà quay lại và thấy Đức Giê-su đứng đó, nhưng bà không biết là Đức Giê-su. 15 Đức Giê-su nói với bà : “Này bà, sao bà khóc ? Bà tìm ai ?” Bà Ma-ri-a tưởng là người làm vườn, liền nói : “Thưa ông, nếu ông đã đem Người đi, thì xin nói cho tôi biết ông để Người ở đâu, tôi sẽ đem Người về.” 16 Đức Giê-su gọi bà : “Ma-ri-a !” Bà quay lại và nói bằng tiếng Híp-ri : “Ráp-bu-ni !” (nghĩa là ‘Lạy Thầy’). 17 Đức Giê-su bảo : “Thôi, đừng giữ Thầy lại, vì Thầy chưa lên cùng Chúa Cha. Nhưng hãy đi gặp anh em Thầy và bảo họ : ‘Thầy lên cùng Cha của Thầy, cũng là Cha của anh em, lên cùng Thiên Chúa của Thầy, cũng là Thiên Chúa của anh em’.” 18 Bà Ma-ri-a Mác-đa-la đi báo cho các môn đệ : “Tôi đã thấy Chúa”, và bà kể lại những điều Người đã nói với bà. 


 

Tôi phát hiện một gia đình bốn người đang ngủ trong chiếc xe van đậu ở bãi xe của tôi

My Lan Pham

Tôi sở hữu một tiệm giặt tự phục vụ. Sáng thứ Ba tuần trước, lúc 5 giờ, tôi phát hiện một gia đình bốn người đang ngủ trong chiếc xe van đậu ở bãi xe của tôi, với toàn bộ quần áo nhét trong các túi rác.

Tôi mở cửa lúc 6 giờ.

Tôi làm nghề này 19 năm rồi. Lịch trình luôn giống nhau: 5 giờ 30 đến nơi, bật đèn, kiểm tra máy, pha cà phê trong văn phòng nhỏ.

Sáng thứ Ba đó, khi tôi lái xe vào, đèn pha chiếu vào một chiếc xe van đậu ở góc xa.

Xe đời cũ.

Dodge Caravan.

Thân xe có những chỗ chỉ sơn lót.

Cửa kính bị mờ hơi nước từ bên trong.

Tôi đậu xe và ngồi nhìn một lúc.

Thỉnh thoảng có người ngủ trong xe qua đêm. Chuyện bình thường. Thường sáng là họ đi.

Nhưng có điều gì đó khiến tôi bước lại.

Tôi gõ cửa kính ghế lái.

Không phản ứng.

Gõ lần nữa.

Cửa kính hạ xuống khoảng 5cm. Một người phụ nữ hiện ra. Khoảng 30 tuổi. Kiệt sức.

“Chúng tôi sẽ đi ngay,” cô nói vội.

“Xin lỗi. Chúng tôi đi ngay.”

“Khoan,” tôi nói.

“Cô ổn không?”

Sau lưng cô tôi thấy bọn trẻ cử động.

“Chúng tôi ổn.” Nhưng giọng cô run.

“Ở đây bao lâu rồi?”

“Chỉ tối qua. Đậu lúc 11 giờ. Tôi nghĩ không ai để ý.”

Tôi nhìn vào trong xe.

Hai đứa trẻ khoảng 8 và 10 tuổi.

Người đàn ông ở ghế phụ đang tỉnh dậy.

Phía sau là túi rác.

4–5 túi.

Nhét đầy.

“Có quần áo trong đó?”

Cô do dự.

“Vâng.”

“Cô đang sống trong xe?”

Gương mặt cô vỡ vụn.

Cố giữ bình tĩnh nhưng không được.

“Chỉ tạm thôi,” cô thì thầm.

“Chúng tôi bị đuổi nhà tuần trước. Giờ làm của chồng tôi ở kho bị cắt. Không đủ tiền thuê. Nhà tạm trú thì hết chỗ. Chúng tôi chờ 5 ngày rồi.”

Người chồng nói:

“Chúng tôi không gây rắc rối. Sẽ đi ngay.”

“Khoan đã,” tôi nói.

“Quần áo bẩn hết rồi phải không?”

Họ nhìn tôi khó hiểu.

“Vâng,” cô nói.

“Chúng tôi mặc cùng một bộ cả tuần. Bọn trẻ cũng vậy. Không đủ tiền giặt.”

Tôi nhìn đồng hồ.

5:47.

“Đưa túi đây.”

“Gì cơ?”

“Đưa túi quần áo.”

“Tại sao?”

“Vì tôi là chủ tiệm giặt. Và cô cần quần áo sạch.”

Người chồng lắc đầu:

“Chúng tôi không có tiền.”

“Tôi có hỏi tiền không?”

Họ chết lặng.

Tôi mở cửa xe.

Lấy ba túi quần áo.

“Khi nào sẵn sàng thì vào. Tôi đang pha cà phê.”

Tôi mang vào.

Phân loại:

Quần áo người lớn.

Quần áo trẻ em.

Chăn.

10 phút sau họ vào.

Bọn trẻ trông sợ hãi.

“Ngồi đi. Có cà phê. Sô cô la nóng cho trẻ.”

“Chúng tôi không trả được—”

Tôi mở máy bán hàng.

Đưa mỗi đứa một ly.

“Miễn phí.”

Người phụ nữ khóc.

Im lặng.

Nước mắt chảy.

“Lần cuối ăn là khi nào?”

Người chồng:

“Hôm qua. Bữa trưa. Nhà thờ phát sandwich.”

Giờ là 6 giờ sáng hôm sau.

Tôi lấy đồ ăn trưa mình mang:

Sandwich bơ đậu.

Táo.

Bánh quy.

“Ăn đi.”

Họ ăn như sói.

Nhất là bọn trẻ.

Tôi khởi động máy giặt.

Rồi gọi vợ.

“Linda, nấu bữa sáng. Trứng, bánh mì. Cho 4 người.”

“Tại sao?”

“Anh nói sau.”

Tôi về nhà.

Linda làm trứng.

Bánh mì.

Dâu tây.

Tôi mang lại.

Bọn trẻ ngủ trên ghế nhựa.

“Bữa sáng thật sự,” tôi nói.

Người phụ nữ nhìn tôi như tôi điên.

“Tại sao anh làm vậy?”

Tôi ngồi xuống.

“15 năm trước vợ chồng tôi cũng bị đuổi nhà.”

Chúng tôi có con 1 tuổi.

Chủ nhà bán nhà.

Không đủ tiền thuê mới.

Chúng tôi sống trong xe 6 tuần.

Ăn từ ngân hàng thực phẩm.

Tắm ở trung tâm thể thao.

Tháng Giêng.

Lạnh khủng khiếp.

Tôi nhìn bọn trẻ.

“Tôi biết cảm giác bị xem như vô hình.”

Cô khóc.

“Cô không phải vấn đề.

Cô là người bị đánh gục.”

Tôi viết địa chỉ.

“Nhà cho thuê của em trai tôi. Có căn 2 phòng vừa trống.”

Tôi gọi.

“Hôm nay họ chuyển vào. Tháng đầu miễn phí.”

Ngườ chồng:

“Chúng tôi không thể—”

“Có thể.”

Vì ngày xưa tôi cũng được giúp.

Và tôi hứa khi đứng dậy sẽ giúp người khác.

Cô khóc nức nở.

“Chúng tôi cố lắm. Không rượu. Không ma túy. Chỉ là không gặp may.”

“Tôi biết.”

9 giờ quần áo sạch.

Tôi chở họ đi xem nhà.

Em trai tôi đợi sẵn.

“Chào mừng về nhà.”

Bọn trẻ chạy vào chọn phòng.

Người phụ nữ ôm tôi.

“Anh cứu chúng tôi.”

“Tôi chỉ rút ngắn thời gian thôi.”

3 tháng sau:

Người chồng có việc tốt hơn.

Người vợ làm ở siêu thị.

Tiền thuê 600 đô.

Bọn trẻ đi học lại.

Tuần trước cô mang bánh cherry tự làm.

“Tôi không trả được. Nhưng tôi biết làm bánh.”

Chúng tôi ăn cùng nhau.

“Tại sao anh giúp?”

“Tôi nhớ chiếc xe đó.”

Tôi nhớ người đi ngang giả vờ không thấy.

Và một người dừng lại.

“Ông ấy làm gì?”

“Chủ quán ăn. Cho vợ tôi việc. Cho chúng tôi ăn.”

Ông mất 5 năm trước.

Tôi chưa kịp cảm ơn.

Cô nói:

“Vậy anh đang làm điều ông ấy đã làm.”

“Đúng.”

Cô nắm tay tôi.

“Một ngày nào đó tôi cũng sẽ làm vậy.”

“Tôi biết.”

Vì lòng tốt không phải để trả lại.

Mà để truyền tiếp.

Cho người tiếp theo ngủ trong xe.

Cho gia đình tiếp theo có túi quần áo bẩn.

Cho những đứa trẻ chưa ăn 20 tiếng.

Chúng ta gần hoàn cảnh đó hơn ta nghĩ.

Một lần bệnh.

Một lần mất việc.

Một lần xe hỏng.

Chỉ vậy thôi.

Và khi điều đó xảy ra…

Bạn chỉ mong có ai đó nhìn thấy bạn.

Thật sự nhìn.

Không phải như một vấn đề.

Mà như một con người.

Giờ tôi luôn để ý bãi xe.

Nếu thấy ai ngủ trong xe, tôi gõ cửa.

Không phải để đuổi.

Mà để hỏi:

“Bạn có cần giặt quần áo không?”

Theo Wild Whispers

My Lan Phạm


 

Ameneh mù hoàn toàn và phải trải qua 19 ca phẫu thuật tái tạo đầy đau đớn.

My Lan Pham

Năm 2004, Ameneh Bahrami là một cô gái trẻ tràn đầy sức sống sống ở Tehran, với cả thế giới rộng mở trước mắt.

Thế giới ấy chìm vào bóng tối hoàn toàn chỉ trong một khoảnh khắc kinh hoàng.

Sau khi cô lịch sự từ chối lời cầu hôn của một người bạn học là Majid Movahedi, hắn bắt đầu bám theo và quấy rối cô.

Một ngày trên đường đi làm về, hắn bước ra từ bóng tối và tạt thẳng một xô axit sulfuric vào mặt cô.

Hậu quả về thể xác là vô cùng thảm khốc.

Ameneh mù hoàn toàn và phải trải qua 19 ca phẫu thuật tái tạo đầy đau đớn.

Nhưng dù mất đi ánh sáng, ý chí của cô vẫn không hề bị khuất phục.

Cô không chỉ muốn hắn bị bỏ tù.

Cô muốn cả thế giới hiểu mức độ nghiêm trọng của tội ác ấy qua lăng kính của một nền công lý cổ xưa.

Luật báo ứng

Theo nguyên tắc pháp lý của Iran là qisas (luật báo ứng), pháp luật cho phép hình phạt kiểu “mắt đền mắt”.

Ameneh đã chiến đấu suốt nhiều năm trong một cuộc chiến pháp lý mang tính bước ngoặt, yêu cầu Majid phải chịu đúng số phận mà hắn đã gây ra cho cô.

Trong một quyết định khiến cộng đồng quốc tế chấn động, tòa án Iran đã chấp thuận.

Cô được trao quyền hợp pháp tự tay nhỏ axit vào mắt kẻ đã hủy hoại cuộc đời mình.

Khoảnh khắc của sự thật

Tháng 7 năm 2011, trong một bệnh viện ở Tehran, mọi thứ đã sẵn sàng.

Majid bị trói trên giường bệnh, khóc lóc và van xin lòng thương xót.

Axit đã được chuẩn bị.

Các bác sĩ đã vào vị trí.

Ameneh ,người phụ nữ đã sống trong bóng tối suốt bảy năm đứng trước mặt hắn với quyền năng có thể cướp đi ánh sáng của hắn mãi mãi.

Cả thế giới như nín thở.

Rồi…

cô dừng lại.

Với ống nhỏ giọt trong tay và quyền hợp pháp để hủy hoại hắn, Ameneh cất lời:

“Tôi tha thứ cho anh ta.”

Ngay ở giây cuối cùng, cô từ bỏ quyền báo ứng của mình.

Vì sao cô chọn lòng thương xót?

Lý do của Ameneh sâu sắc không kém nỗi đau mà cô từng chịu đựng.

Cô nói rằng mình không muốn một con người nào khác phải sống trong “bóng tối” mà mỗi ngày cô đang phải chịu.

Cô hiểu rằng luật pháp có thể trao cho cô sự trả thù.

Nhưng nó không thể trả lại ánh sáng cho đôi mắt cô.

Trong khi đó, sự tha thứ có thể trả lại cho cô sự bình yên trong tâm hồn.

Bằng việc chọn lòng nhân từ, Ameneh Bahrami đã đảo ngược hoàn toàn câu chuyện.

Từ một nạn nhân của tội ác tàn bạo, cô trở thành biểu tượng toàn cầu của sức mạnh đạo đức.

Cô chứng minh rằng sức mạnh lớn nhất không nằm ở khả năng gây đau đớn cho người khác.

Mà nằm ở lòng can đảm để chấm dứt vòng lặp của đau khổ ấy.

Mình thấy câu mạnh nhất của câu chuyện này là:

Luật pháp có thể cho ta sự trả thù, nhưng chỉ lòng tha thứ mới đem lại bình yên.

Đây thật sự là một kiểu sức mạnh rất hiếm:

đủ đau để trả thù, nhưng đủ mạnh để buông bỏ.

Theo True Story

My Lan Phạm