Đã tìm thấy nữ tài xế bị lũ cuốn trôi ở Đồng Nai…

Tin Biển Đông 24h

Vậy là không có phép màu! Đã tìm thấy nữ tài xế bị lũ cuốn trôi ở Đồng Nai, đau lòng hiện trường cách 300 m.

Chiều hôm ấy, khi mưa lớn trút xuống Đồng Nai, không ai nghĩ một chuyến xe trên đường Sư Vạn Hạnh lại kết thúc bằng một cuộc tìm kiếm kéo dài suốt hai ngày.

Bà Trần Thị Bích Liên, 46 tuổi, ngụ phường An Lộc, lái ô tô từ hướng Tân Khai về An Lộc. Con đường vốn quen thuộc bỗng trở nên nguy hiểm khi nước từ thượng nguồn dồn xuống.

Khi đến khu vực đập Sở Nhì, dòng nước không còn đơn thuần là nước mưa chảy trên mặt đường. Nó cuồn cuộn đổ về, mang theo sức mạnh đủ để đẩy một chiếc ô tô xuống hồ Sa Cát.

Một số người dân chứng kiến sự việc lập tức tìm cách tiếp cận để cứu người phụ nữ bên trong xe, nhưng dòng nước quá mạnh khiến mọi nỗ lực bất thành.

Chiếc xe nhanh chóng biến mất giữa dòng nước, còn người phụ nữ 46 tuổi cũng không còn tung tích.

Từ khoảnh khắc đó, một cuộc chạy đua với thời gian bắt đầu.

Điều khiến mọi người lo lắng hơn là không ai biết chính xác chiếc ô tô đã bị dòng nước cuốn đi đâu. Hồ Sa Cát rộng, mưa vẫn tiếp tục nặng hạt, nước chảy xiết và tầm nhìn bị hạn chế.

Hàng trăm cán bộ, chiến sĩ, lực lượng dân phòng cùng người dân được huy động. Flycam được sử dụng để mở rộng phạm vi quan sát trên mặt hồ.

Từng khu vực được rà soát, từng dấu vết được tìm kiếm. Nhưng sau ngày đầu tiên, điều quan trọng nhất vẫn chưa xuất hiện: không có dấu hiệu rõ ràng về vị trí của nạn nhân và chiếc xe.

Sang ngày thứ hai, cuộc tìm kiếm trở nên căng thẳng hơn. Mỗi giờ trôi qua đều khiến hy vọng tìm thấy người phụ nữ càng trở nên mong manh.

Nhưng rồi một diễn biến bất ngờ xuất hiện.

Sáng ngày 24/9, Công an phường Bình Long thông báo lực lượng cứu hộ đã tìm thấy bà Trần Thị Bích Liên.

Vị trí phát hiện nằm tại hồ Sa Cát, cách nơi chiếc ô tô được cho là bị nước cuốn khoảng 300 m.

Sau hai ngày tìm kiếm, cuối cùng gia đình và lực lượng cứu hộ cũng có câu trả lời về số phận người phụ nữ mất tích.

Thế nhưng, cuộc tìm kiếm vẫn chưa thực sự kết thúc.

Chiếc ô tô mà bà Liên điều khiển vẫn chưa được xác định vị trí để trục vớt. Một người đã được tìm thấy, nhưng phương tiện vẫn nằm đâu đó dưới hoặc quanh vùng nước rộng lớn.

Chính chi tiết này khiến câu chuyện trở nên ám ảnh.

Chỉ trong một khoảnh khắc, một con đường quen thuộc đã biến thành nơi nước lũ cuốn phăng cả phương tiện lẫn con người, để lại phía sau hai ngày căng thẳng và hàng trăm người cùng tham gia tìm kiếm.

Điều đáng nói là vụ việc không phải hiện tượng riêng lẻ trong những ngày mưa lớn ở Đồng Nai.

Cùng thời điểm, nhiều khu dân cư và tuyến đường trên địa bàn tỉnh rơi vào tình trạng ngập sâu.

Tối ngày 21/9, chỉ sau hơn hai giờ mưa lớn, nhiều khu vực thuộc các xã Đại Phước, Phước An và Nhơn Trạch đã chìm trong nước, có nơi nước dâng gần một mét.

Trên đường Hùng Vương, đoạn qua xã Phước An, nước từ những khu vực cao dồn xuống với tốc độ nhanh khiến hàng loạt xe máy chết máy. Người đi đường phải xuống xe dắt bộ giữa dòng nước.

Nhưng bất ngờ chưa dừng lại ở đó.

Nước không chỉ chiếm mặt đường mà còn tràn vào nhiều căn nhà hai bên. Người dân phải vội vàng kê cao đồ đạc, tìm cách dùng máy bơm để đẩy nước ra ngoài.

Với những người sống tại khu vực này, cảnh tượng ấy không hoàn toàn xa lạ.

Một tiểu thương tên Thành cho biết gia đình ông đã xây tường chắn nước khá cao nhưng vẫn không thể ngăn được nước tràn vào nhà. Ông phải liên tục dùng máy bơm để cứu đồ đạc.

Điều đáng chú ý là theo lời ông, đây đã là lần thứ ba khu vực này bị ngập chỉ trong riêng tháng 9.

Và phía sau những con số ấy là một câu chuyện khác: người dân đang phải đối mặt với tình trạng ngập lặp lại nhiều lần chỉ trong thời gian ngắn.

Khu vực gần chợ Vĩnh Thanh cũng nhanh chóng trở nên hỗn loạn khi mưa càng lúc càng nặng hạt.

Người dân cho biết mưa kéo dài hơn hai giờ, trong khi nước từ hướng các khu công nghiệp Nhơn Trạch tiếp tục đổ về. Hệ thống cống thoát nước không kịp tiêu thoát khiến nước dâng nhanh.

Đúng lúc nhiều công nhân tan ca, con đường đã trở thành một vùng nước rộng. Có người không thể tiếp tục di chuyển, phải đứng chờ nước rút.

Một chuyến trở về nhà sau giờ làm tưởng như bình thường bỗng biến thành cuộc chờ đợi giữa dòng nước.

Càng đáng lo hơn, tại một số khu vực thấp trũng thuộc xã Thanh Sơn, ven sông Đồng Nai, nước cũng dâng cục bộ. Chính quyền địa phương phải di dời nhiều người đến nơi an toàn.

Những diễn biến liên tiếp ấy cho thấy mưa lớn không chỉ gây bất tiện trong việc đi lại mà có thể nhanh chóng chuyển thành tình huống nguy hiểm khi nước tập trung từ nhiều hướng.

Trong vụ bà Liên, điều đáng sợ nhất có lẽ không nằm ở cơn mưa đơn thuần mà ở tốc độ thay đổi của dòng nước.

Chỉ một thời gian ngắn trước đó, con đường vẫn là tuyến giao thông quen thuộc. Nhưng khi nước từ thượng nguồn đổ xuống mạnh, khu vực đập Sở Nhì trở thành điểm nguy hiểm và chiếc ô tô bị cuốn xuống hồ Sa Cát.

Người chứng kiến có mặt nhưng không thể cứu được nạn nhân.

Lực lượng cứu hộ đến sau đó cũng phải đối mặt với mặt hồ rộng, mưa lớn và dòng nước phức tạp.

Hai ngày tìm kiếm cho thấy thiên nhiên đôi khi có thể che giấu một dấu vết nhỏ bé đến mức nào.

Và khi nạn nhân được tìm thấy cách vị trí chiếc xe bị cuốn khoảng 300 m, câu hỏi tiếp theo lập tức xuất hiện: Chiếc ô tô đang ở đâu?

Đó vẫn là phần chưa có lời giải của cuộc tìm kiếm.

Trong khi đó, thời tiết tiếp tục khiến tình hình đáng lo ngại.

Theo thông tin khí tượng được nêu trong nội dung, trong 48–72 giờ tiếp theo, Đồng Nai tiếp tục có mưa vừa đến mưa to, tổng lượng mưa phổ biến từ 80–130 mm, có nơi trên 130 mm. Đợt mưa lớn được dự báo có khả năng kéo dài đến hết ngày 24/9.

Ở phạm vi rộng hơn, từ chiều ngày 21 đến ngày 24/9, khu vực phía Đông Gia Lai, Đắk Lắk, Khánh Hòa, Lâm Đồng và Nam Bộ được cảnh báo có tổng lượng mưa từ 150–250 mm, cục bộ trên 400 mm, nguy cơ xuất hiện mưa có cường độ trên 100 mm trong 3 giờ.

Những con số ấy không chỉ nằm trên bản tin dự báo. Đằng sau chúng là nguy cơ nước dâng nhanh, đường sá bị chia cắt và những tình huống có thể chuyển từ bình thường sang nguy hiểm chỉ trong vài phút.

Vụ việc đau lòng tại hồ Sa Cát là một lời cảnh báo rõ ràng: khi nước lũ đã tràn qua đường và dòng chảy trở nên mạnh, không nên cố điều khiển phương tiện vượt qua. Chỉ một khoảnh khắc đánh giá sai sức nước cũng có thể dẫn đến hậu quả không thể cứu vãn. 


 

TÂM LINH VÀ SỰ KIÊN ĐỊNH – Rev. Ron Rolheiser, OMI

 Rev. Ron Rolheiser, OMI

Có một điều gì đó bên trong khiến chúng ta chẳng thể hài lòng với những điều bình dị.  Có một điều gì đó nơi chốn bình thường khiến ta dễ nghĩ rằng những thói quen lặp lại, những nhịp sống gia đình và sự tận tụy với bổn phận có thể đè nặng, nhấn chìm và níu kéo chúng ta ra khỏi những dòng chảy tươi đẹp hơn của đam mê, lãng mạn, sáng tạo, khiêu vũ và lễ hội.

 Chúng ta thường hay đố kỵ và lên án những điều bình dị.  Tôi nhớ một sinh viên trẻ của mình từng chia sẻ trong lớp rằng nỗi sợ lớn nhất đời cô là đầu hàng trước những điều bình thường, “để rồi kết thúc bằng sự hài lòng khi trở thành một người nội trợ kiêm người mẹ nhỏ bé, vui vẻ làm quảng cáo bột giặt!”

 Nếu bạn là một nghệ sĩ hoặc có tâm hồn nghệ sĩ, bạn rất dễ rơi vào thứ cảm xúc này.  Đó là một trong những khuynh hướng của người làm nghệ thuật.  Chẳng hạn, Doris Lessing từng nhận xét rằng George Eliot có lẽ đã có thể trở thành một nhà văn giỏi hơn “nếu bà không quá coi trọng đạo đức.”  Điều mà Lessing muốn ám chỉ là Eliot đã giữ mình quá neo chặt vào những điều bình dị, quá an toàn, quá vững chãi và quá xa rời những bờ vực nguy hiểm.

 Kathleen Norris, trong tác phẩm tiểu sử The Virgin of Bennington, đã chia sẻ về việc khi còn là một người viết trẻ, cô từng là nạn nhân của tư tưởng này như thế nào: “Tôi từng tin rằng các nghệ sĩ quá nghiêm túc để có thể sống một cuộc đời tỉnh táo và bình thường.  Bị thúc đẩy bởi những thế lực không thể tránh khỏi trong một thế giới vô cảm, họ được định sẵn cho một cuộc đấu tranh không thể tránh, đôi khi chết chóc, nhưng luôn luôn cao thượng với sự u ám và diệt vong.”

 Một cuộc vật lộn đầy cao cả với nỗi u sầu và tuyệt vọng!  Điều đó nghe thật cuốn hút, nhất là đối với những ai trong chúng ta tự coi mình là người có tâm hồn nghệ sĩ, trí tuệ uyên bác hay thiên về đời sống tâm linh.  Đó là lý do vì sao vào một ngày nào đó, bất kỳ ai trong chúng ta cũng có thể cảm thấy một sự thương hại trịch thượng đối với những người đạt được niềm hạnh phúc đơn sơ.  Chúng ta nghĩ: Thật dễ dàng cho họ, nhưng họ đang tự hạ thấp giá trị của mình!  Đó chính là tiếng nói của người nghệ sĩ bên trong chúng ta.  Bạn sẽ chẳng bao giờ thấy một nghệ sĩ đi đóng quảng cáo bột giặt!

 Xin đừng hiểu lầm tôi.  Không phải tất cả những điều này đều tồi tệ.  Chính Đức Giê-su cũng từng nói rằng con người sống không chỉ nhờ cơm bánh.  Không một nghệ sĩ nào cần phải giải thích điều đó.  Họ biết rằng những thói quen an toàn, trách nhiệm tẻ nhạt và một khoản thế chấp đã thanh toán hết chưa chắc đã tạo nên thiên đường.  Chúng ta cần cơm bánh, nhưng chúng ta cũng cần vẻ đẹp, sắc màu và sự ăn mừng.

 Doris Lessing, một nghệ sĩ vĩ đại, đã gia nhập đảng cộng sản khi còn trẻ nhưng sau đó đã rời bỏ khi trưởng thành hơn.  Tại sao bà lại rời đi?  Một câu nói đã gói gọn tất cả.  Bà nói rằng mình rời bỏ đảng cộng sản “vì họ không tin vào sắc màu!”

 Đức Giê-su quả quyết với chúng ta rằng cuộc sống không được thiết kế để sống theo hai màu đen và trắng, tức là đơn thuần chỉ là một chuỗi tuần hoàn vô tận của việc thức dậy, tắm rửa, đi làm, hoàn thành công việc một cách trách nhiệm, trở về nhà, ăn tối, chuẩn bị những thứ cho ngày hôm sau và rồi lại đi ngủ.

 Thế nhưng, có rất nhiều điều đáng nói về nhịp điệu dường như tẻ nhạt ấy.  Nhịp điệu của những điều bình dị, đến cuối cùng, lại chính là nguồn cội sâu xa nhất để chắt lọc niềm vui và ý nghĩa.  Kathleen Norris, sau khi kể cho chúng ta nghe về sự cám dỗ thời trẻ là né tránh những điều bình thường để lao vào cuộc chiến cao quý hơn với sự ảm đạm và diệt vong, đã chia sẻ cách một người thầy tuyệt vời –  Betty Kray – đã giúp cô thoát khỏi cái bẫy đó.  Kray khuyến khích cô hãy viết ra từ niềm vui cũng như từ sự ảm đạm của mình, và hãy “từ bỏ sự lãng mạn hóa điên rồ như một trò giả tạo.”  Như Norris đã diễn tả: “Bà ấy đã cố gắng hết sức để thuyết phục tôi về điều mà những người bạn từng phải điều trị tâm thần của bà biết rất rõ: rằng sự trân trọng thuần khiết, đơn sơ đối với những điều bình dị, hằng ngày là một kho báu không gì trên đời so sánh được.”

 Đôi khi một người thầy khác lại dạy chúng ta bài học này.  Khi chúng ta phục hồi sức khỏe và năng lượng sau khi bị bệnh, phải nghỉ làm và rời xa những thói quen, nhịp điệu sinh hoạt bình thường, không có gì ngọt ngào bằng việc được trở lại với những điều bình dị – công việc, lịch trình và những điều quen thuộc của cuộc sống thường nhật.  Chỉ sau khi nó bị tước đoạt rồi được trả lại, chúng ta mới nhận ra rằng sự trân trọng đơn sơ, trong lành đối với những điều hằng ngày chính là kho báu quí giá nhất.

 Dù vậy, các nghệ sĩ vẫn có một phần đúng.  Những điều bình dị có thể đè nặng chúng ta, giữ chúng ta ở bên ngoài những vùng nước sâu hơn của sự sáng tạo, lãng mạn, sắc màu và sự hoang dại giúp ta cất bước nhảy múa.  Tuy nhiên, khi đã thừa nhận điều đó, mỏ neo và sức nặng cũng có một chức năng tích cực.  Chúng giữ cho chúng ta không bị cuốn trôi.  Chúng neo giữ sự tỉnh táo của chúng ta.  Chúng giữ cho chúng ta vững vàng.  Nhịp điệu của những điều bình dị có lẽ là mỏ neo mạnh mẽ nhất để giữ chúng ta trong sự tỉnh táo.

 Paul Simon, trong một bài hát thập niên 1970 có nhan đề An American Tune, đã hát về việc đối mặt với sự hỗn loạn, sai lầm, sự phản bội và những sự kiện làm tan vỡ sự bình yên của chúng ta.  Và ông kết thúc bản khúc ca khá buồn ấy một cách vô cùng bình yên bằng những lời ca: “Nhưng ngày mai vẫn sẽ là một ngày làm việc khác, và tôi đang cố gắng nghỉ ngơi một chút.  Tất cả những gì tôi đang cố gắng, chỉ là nghỉ ngơi một chút thôi.”

 Sự tuân phục mệnh lệnh đó giúp neo giữ sự tỉnh táo của chúng ta.  Có rất nhiều điều tuyệt vời để nói về việc trở thành một người bình thường, biết hài lòng, được neo giữ trong nhịp điệu của những điều bình dị, và cố gắng nghỉ ngơi một chút khi kết thúc một ngày làm việc mệt mỏi.

 Rev. Ron Rolheiser, OMI

From: Langthangchieutim


 

 Mừng kính 2 thánh  Cót-ma và Ða-mi-a-nô ( 26/9)- Cha Vương

Chúc bình an! Hôm nay 26/9 Giáo hội mừng kính 2 thánh  Cót-ma và Ða-mi-a-nô, thế kỷ thứ 3. Các ngài được xem như là  bổn mạng bổn mạng các thầy thuốc và những y tá.

Thứ 7 cuối tuần rồi an bình! Thánh Anthony Mary Claret  nói: “Khi yêu mến và lần hạt Mân Côi, người ta sẽ thấy rằng Kinh Mân Côi làm cho họ trở nên tốt hơn.” Vậy trong tháng Mân Côi, mời Bạn đồng hành với Mẹ hãy hy sinh những đau đớn của mình cầu nguyện cho người tội lỗi ăn năn trở lại. Nhớ cầu nguyện cho nhau và thế giới luôn an bình nhé.

Cha Vương

Thứ 7: 26/9/2026.     (t5-24)

Vào khoảng thế kỷ thứ III, tại miền Égée thuộc nước Ả Rập, có hai anh em sinh đôi tên là Cót-ma và Ða-mi-a-nô. Ngay quãng đầu đời, hai anh em đã gặp cảnh khó khăn, thử thách. Số là cha hai Ngài mất sớm, hai Ngài rơi vào cảnh mồ côi cha. Chúa vô cùng thương xót đã cho hai Ngài có bà mẹ đạo đức, thánh thiện, nhân ái. Hai Ngài đã được tình thương của mẹ ủ ấp, mẹ các Ngài đã giáo dục các Ngài theo đường hướng Giáo Hội và Chúa Kitô.  Hai Ngài đã được hấp thụ một nền giáo dục nhân bản thật tốt, đã được trui luyện theo đường hướng Phúc Âm của Chúa. Ðược Chúa soi sáng, Thánh Thần tác động, hướng dẫn, hai Ngài lớn lên đã mau chóng đạt được bằng cấp y dược và trở thành những lương y lành nghề, đạo đức. Với y đức có được, với lòng đạo đức, tâm hồn hướng về Chúa, thánh Cót-ma và Ða-mi-a-nô đã hành nghề lương y mà không nhận một khoản tiền thù lao nào đối với bất cứ một ai. Chính vì thế, tiếng tăm đạo đức của hai Ngài vang dội khắp nơi.

   Giáo Hội của Chúa Kitô ít khi được an bình, con cái thế gian luôn tìm cách phá hại Hội Thánh của Chúa. Giáo Hội vào thời hai Ðấng lúc đó gặp cảnh cấm cách, bắt bớ của Hoàng đế Ðiôclêtianô và Maximianô, Cótma và Ðamianô bị bắt, bị dẫn giải tới quan Lydia. Thánh Cót-ma và Ðamianô không sợ sệt, không run sợ, không nhát đảm, các Ngài luôn tuyên xưng mình là Kitô hữu. Quan Lydia truyền đánh đòn hai Ngài một cách dã man, tàn ác, ra lệnh xích tay chân và quăng hai Ngài xuống biển. Chúa nhiệm mầu và quyền năng đã cứu hai Ngài khỏi chết. Tức giận vì phép lạ Chúa giải cứu hai Ngài khỏi chết, Lydia đã ra lệnh đốt một đống lửa cháy to và đẩy hai Ngài vào đống lửa đang cháy. Hai Ðấng vẫn ung dung, vừa đi vừa cầu nguyện giữa đống lửa đang bừng bừng cháy lớn. Phép lạ Chúa quả quá tỏ tường, nhiều người chứng kiến phép lạ lớn lao ấy đã được ơn quay trở lại.

   Như một con thú khát máu, Lydia đã ra lệnh khẩn cấp đem hai Ngài đi chém đầu. Hai thánh nhân trước khi để cho đao phủ chém đầu mình đã can đảm ngước mắt lên trời cầu xin Chúa thứ tha cho những kẻ làm hại các Ngài. 

Thánh Cót-ma và Ða-mi-a-nô đã được phúc tử vì đạo vào ngày 27/9/297. Chính đức tin sắt đá và lòng nhân từ của các Ngài đã giúp các Ngài được phúc lãnh nhận ơn chết vì đạo.

SỨ ÐIỆP: Hai anh em sinh đôi Cot-ma và Ða-mi-a-nô đã sống trung thành với giáo lý chân chính của chúa, của Giáo Hội. Các Ngài cảm nghiệm tình thương vô biên của Chúa. Tình thương đã tha thứ cho người trộm lành. Tình thương đã hoán cải con người Mađalêna và tình thương đã cải hóa ông Gia-kêu, người thu thuế. Ý thức sâu xa, con đường của Chúa đã đi, lời Chúa đã dậy, thánh Cót-ma và Ða-mi-a-nô đã nói lên cho nhân loại điều này: “Chỉ có tình thương tha thứ mới giải thoát được con người “.  Chúa đã yêu thương, tha thứ cho nhân loại tội lỗi, Chúa đã kê vai gánh tội cho nhân trần, tại sao nhân loại lại không thể cảm thông tha thứ cho nhau? Thánh Cót-ma và Ða-mi-a-nô đã nói lên chân lý này: “Thiên Chúa là tình yêu”. Con người nhận Chúa làm gia nghiệp phải sống tình yêu của Chúa. (Nguồn: Lm Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT)

   Thánh Grégoire de Tours, thế kỷ VI, làm chứng lòng sùng kính hai vị tử đạo “chữa bệnh” này tại xứ Gaule: “Hai anh em y sĩ Cosma và Đamianô đã trở thành Kitô hữu; chỉ nhờ công phúc nhân đức và lời cầu nguyện của các ngài, nhiều bệnh tật đã được xua đuổi. Sau một số cực hình khác nhau, các ngài lại đoàn tụ với nhau trên trời và làm nhiều phép lạ. Nếu có một người bệnh đến mộ các ngài và tin tưởng cầu xin, người đó đã gặp thầy gặp thuốc. Người ta kể các ngài hiện đến với các bệnh nhân trong giấc mộng, cho họ toa thuốc, bệnh nhân cứ thế nghe theo và họ được chữa lành” (In. Glor.Mart 98).

   Lạy thánh Cót-ma và Ða-mi-a-nô xin chữa lành những bệnh tật mà chúng con đang có và xin cầu bầu cùng Chúa giúp chúng con biết yêu thương, tha thứ cho những người làm hại chúng con như hai thánh đã xin Chúa thứ tha cho những kẻ giết thân xác hai Ngài.

From: Do Dzung

*****

Tha Thứ Chữa Lành – Lm. Giuse Vũ Đức Hiệp

Tình hình Cuba rất căng thẳng

Ba’o Dan Chim Viet

Tác Giả: Hoàng Quốc Dũng –

24/09/2026

Tối qua, tôi tình cờ xem TV, trên kênh Franceinfo một phóng sự về “Cuba hết hơi”. Phóng sự làm tôi đặc biệt chú ý không chỉ vì những hình ảnh được ghi lại, mà còn vì hoàn cảnh khá đặc biệt trong đó nó được thực hiện.

Nữ nhà báo thực hiện chương trình cho biết bà đã ba lần xin visa nhà báo để vào Cuba nhưng đều không được. Cuối cùng, bà phải vào Cuba với tư cách một khách du lịch bình thường và sử dụng những phương tiện quay kín đáo để ghi lại cuộc sống thực tế của người dân.

Những gì bà mang về khiến tôi có một cảm giác rất lạ:

Cuba hôm nay làm tôi nhớ đến Việt Nam những năm 1980.

Sự so sánh này đối với tôi không hoàn toàn đến từ sách báo, bởi vì tôi đã từng đến Cuba.

Năm 1986, tôi có dịp sang Cuba học trong hai tháng.

Hai tháng không phải là dài, nhưng cũng đủ để tôi quan sát được khá nhiều điều về cuộc sống ở đó. Cuba thời ấy tất nhiên đã có những khó khăn của mình, nhưng nếu so với Việt Nam mà tôi vừa từ đó sang thì, theo cảm nhận của tôi, đời sống của người Cuba lúc ấy hơn Việt Nam rất nhiều.

Lúc đó tinh thần cách mạng của dân Cuba cũng còn rất cao. Họ cũng rất quý mến người Việt Nam. Đời sống thì không thể nào so sánh được với Liên Xô, càng không thể so với các nước phương tây, nhưng vẫn còn “có ăn” và vẫn còn “chơi được”. Hàng ngày, hết giờ làm việc, tôi thấy rất nhiều người nhẩy lên xe Bus đi thẳng ra bãi biển tắm. Trên xe Bus họ nói chuyện rất rôm rả, mặt mày rạng rỡ. Ngoài bãi biển có rất nhiều người. Họ ôm cả radio cassette ra bãi biển để nghe nhạc reo hò, nhẩy nhót. Đêm đến các nhà hàng, quán bar cũng nhộn nhịp. Nhưng hôm nay thì sao?

Bốn mươi năm đã trôi qua, Việt Nam hôm nay không còn là Việt Nam của năm 1986.

Còn Cuba?

Nhìn những hình ảnh trên Franceinfo tối qua, nhiều lúc tôi có cảm giác kỳ lạ như mình đang nhìn thấy lại chính Việt Nam của bốn mươi năm trước.

MỘT ĐẤT NƯỚC THIẾU GẦN NHƯ MỌI THỨ

Cuba hiện đang trải qua một cuộc khủng hoảng kinh tế và năng lượng cực kỳ nghiêm trọng. Điện bị cắt thường xuyên. Có những nơi mất điện hàng chục giờ. Ngày 18 tháng 9 vừa qua, toàn bộ hệ thống điện quốc gia Cuba lại bị sập, khiến hàng triệu người rơi vào cảnh mất điện. Đến giờ này mà điện còn không có thì làm được cái gì,

Rồi đến thực phẩm. Không phải Cuba hoàn toàn không còn gì để ăn. Hàng hóa vẫn có. Vấn đề là hàng ở đâu và ai có tiền để mua. Người dân vẫn phải xếp hàng để mua hàng của các cửa hàng Nhà nước theo hệ thống phân phối. Và cảnh tượng ấy đối với những người Việt Nam thuộc thế hệ tôi quen thuộc đến mức gần như không cần giải thích.

Ngày xưa chúng tôi gọi đó là mậu dịch. Có tem phiếu nhưng chưa chắc đã có hàng. Có tiền cũng chưa chắc mua được.

Ngày nay ở Cuba đã xuất hiện các cửa hàng và hoạt động kinh doanh tư nhân. Ở đó có nhiều hàng hơn, nhưng giá cả lại gần với một thế giới hoàn toàn khác so với đồng lương của một người Cuba bình thường.

Thế là xuất hiện một nghịch lý mà người Việt Nam từng sống qua thời bao cấp hiểu rất rõ:

Một bên giá rẻ nhưng không có hàng. Một bên có hàng nhưng không có tiền mua.

Nhưng có một hình ảnh trong phóng sự còn làm tôi sửng sốt hơn:

Thuốc Tây được bán ngoài vỉa hè.

Các hiệu thuốc Nhà nước vẫn còn đó, nhưng gần như trống rỗng. Người bệnh phải tìm đến những người bán thuốc bên ngoài. Một phần những loại thuốc ấy được những người có khả năng đi ra nước ngoài mang về rồi bán lại, tất nhiên với giá rất cao.

Nhưng ở đây không phải một cái quần, một chiếc xe đạp hay một cân thịt. Đây là thuốc chữa bệnh.

Đến thuốc chữa bệnh mà cũng phải ra vỉa hè tìm mua thì sự thiếu thốn đã mang một ý nghĩa hoàn toàn khác. Ôi giống hệt Việt Nam trước đây.

Một hình ảnh khác trong phóng sự làm tôi đặc biệt chú ý. Cuba có những bãi biển tuyệt đẹp, Biển xanh, Cát trắng, Khách sạn…

Tất cả những gì thiên nhiên cần ban cho một đất nước để biến nó thành một thiên đường du lịch thì Cuba gần như có đủ.

Nhưng bãi biển lại vắng tanh. Du lịch Cuba đang trải qua một cuộc khủng hoảng cực kỳ nghiêm trọng. Trong bảy tháng đầu năm 2026, lượng khách quốc tế đến Cuba đã giảm khoảng 62% so với cùng kỳ năm trước.

Sáu mươi hai phần trăm! Đó không còn là một sự giảm sút bình thường. Một đất nước rất cần ngoại tệ, sở hữu những bãi biển mà rất nhiều quốc gia chỉ có thể mơ ước, vậy mà khách du lịch lại ngày càng ít.

Khủng hoảng nhiên liệu còn làm cho tình hình tồi tệ thêm.

Cuba thiếu nghiêm trọng nhiên liệu hàng không. Nhiều hãng hàng không quốc tế, trong đó có các hãng của Canada và một số hãng lớn của châu Âu, đã phải tạm ngừng các chuyến bay đến Cuba.

Trong khi đó, một số chuyến bay từ Mỹ vẫn được duy trì. Do khoảng cách từ miền nam Hoa Kỳ đến Cuba tương đối ngắn, máy bay trong một số trường hợp có thể mang đủ nhiên liệu cho hành trình mà không cần tiếp nhiên liệu tại Cuba.

Tuyệt vọng? Nghèo chưa chắc đã là điều đáng sợ nhất. Điều đáng sợ hơn là mất hy vọng.

Qua những người được phỏng vấn trong phóng sự, tôi có cảm giác rất rõ rằng nhiều người Cuba không còn tin rằng cuộc sống của họ sẽ khá lên. Họ muốn ra đi. Ai cũng muốn vượt biên.

Một đất nước nghèo vẫn có thể đứng dậy nếu người dân còn tin rằng ngày mai sẽ khá hơn hôm nay.

Nhưng khi giấc mơ của cả một thế hệ không còn là xây dựng cuộc sống trên chính đất nước mình mà chỉ là tìm cách rời khỏi nó, thì đó mới thực sự là một bi kịch.

CÒN NẾU NỔI LOẠN?

Nhưng ở Cuba, công khai phản đối chính quyền có thể phải trả một cái giá rất đắt.

Các tổ chức nhân quyền quốc tế vẫn ghi nhận những trường hợp người biểu tình hoặc những người công khai bất đồng với chính quyền bị bắt giữ, truy tố và bỏ tù. Một trường hợp rất gần đây là một thiếu niên 16 tuổi bị bắt vào tháng 3 năm 2026 sau khi tham gia một cuộc biểu tình liên quan đến tình trạng mất điện kéo dài và thiếu thực phẩm. Cậu bị cáo buộc tội « phá hoại », một tội danh có thể dẫn đến một mức án rất nặng. Đến tháng 6, cậu được trả tự do, nhưng theo Amnesty International, thủ tục hình sự đối với cậu vẫn chưa hoàn toàn chấm dứt. Chuyện này là chuyện nhỏ ở các nước cộng sản.

NHƯNG TẠI SAO CUBA LẠI ĐẾN NÔNG NỖI NÀY?

Câu trả lời dễ nhất là: “Tại cộng sản.”

Nhưng nếu chỉ viết như vậy thì quá đơn giản.

TẠI SAO CỨ NHẤT QUYẾT ĐI MỘT CON ĐƯỜNG?

Đến đây tôi lại tự hỏi một điều: tại sao Cuba cứ nhất quyết phải “kiên định con đường xã hội chủ nghĩa” đến như vậy?

Đây không phải chỉ là một khẩu hiệu. Hiến pháp Cuba xác định hệ thống xã hội chủ nghĩa là không thể đảo ngược, Đảng Cộng sản là lực lượng lãnh đạo cao nhất của Nhà nước và xã hội, còn kế hoạch hóa vẫn giữ vai trò trung tâm trong nền kinh tế.

Nhưng điều làm tôi khó hiểu hơn cả là: nếu một con đường đã đưa mình đến bức tường thì tại sao không được quyền quay lại, hoặc ít nhất rẽ sang một con đường khác?

Việt Nam năm 1986 đã không vứt bỏ cái tên “xã hội chủ nghĩa”, nhưng trước sự khủng hoảng của đời sống, đã phải thay đổi rất nhiều cách vận hành nền kinh tế. Kinh tế thị trường được thừa nhận, kinh tế tư nhân dần được mở rộng…

Trung Quốc còn đi xa hơn rất nhiều trong việc sử dụng thị trường và hội nhập vào nền kinh tế thế giới.

Trung Quốc và Mỹ có thể đối đầu nhau gay gắt về chính trị, công nghệ, thương mại và chiến lược. Nhưng đối đầu không có nghĩa là không làm ăn với nhau. Ngay trong năm 2026, giữa lúc hai nước vẫn áp thuế và gây sức ép lẫn nhau, họ vẫn tiếp tục đàm phán để giảm thuế và duy trì quan hệ thương mại.

Nói cách khác, người ta có thể không yêu nhau mà vẫn buôn bán với nhau.

Cuba thì lại có một lịch sử hoàn toàn khác. Sau cách mạng, đặc biệt trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh, Cuba gắn chặt với Liên Xô và trở thành một trong những đối thủ của Hoa Kỳ ngay sát bờ biển nước Mỹ. Sau khi Liên Xô biến mất, quan hệ Cuba–Mỹ đã có những thời kỳ hòa dịu nhưng rồi lại căng thẳng, và đến hôm nay hai bên vẫn tiếp tục đối đầu. Các biện pháp cấm vận và trừng phạt của Mỹ gây thiệt hại thực sự cho kinh tế Cuba; chính quyền Cuba coi đó là một nguyên nhân chủ yếu của cuộc khủng hoảng. Phía Mỹ lại cho rằng các biện pháp này nhằm gây sức ép lên chính quyền cộng sản Cuba.

Tôi không phủ nhận tác động của cấm vận. Nhưng chính vì thế tôi lại càng muốn hỏi:

Một hòn đảo nhỏ nằm cách một siêu cường kinh tế lớn nhất thế giới có hơn một trăm cây số, tại sao suốt hàng chục năm lại không tìm được một con đường thực dụng hơn để chung sống và làm ăn với người láng giềng khổng lồ ấy?

Có nhất thiết phải biến sự đối đầu thành một phần của bản sắc cách mạng?

Có nhất thiết phải chứng minh rằng mình không bao giờ thay đổi, ngay cả khi chính cuộc sống của người dân đang ở mức gần như « chết đói ».

Bốn mươi năm sau, tôi ngồi ở Pháp nhìn Cuba qua màn hình Franceinfo. Và thật trớ trêu:

Có một nghịch lý rất lạ ở đây. Một người Pháp nhìn thấy cảnh ở Cuba ấy có thể thốt lên: “Ôi, thiên đường!”

Nhưng rất nhiều người đang sống ngay trong cái “thiên đường” ấy lại có một giấc mơ hoàn toàn ngược lại: Ra đi. Giống như ở Việt Nam năm nào. Nếu mà đi được thì cái cột đèn cũng đi.

Điều khó hiểu không phải là Cuba đã lựa chọn con đường ấy cách đây hơn sáu mươi năm. Trong hoàn cảnh lịch sử lúc đó, người ta có thể giải thích được sự lựa chọn ấy.

Điều khó hiểu là sau từng ấy năm, sau sự sụp đổ của Liên Xô, sau những cuộc khủng hoảng liên tiếp, và sau khi chính Cuba cũng buộc phải mở cửa ngày càng nhiều cho kinh tế tư nhân và cơ chế thị trường, người ta vẫn coi việc “kiên định” với con đường cũ như một nguyên tắc không được phép đặt lại vấn đề. Thậm chí Hiến pháp Cuba còn xác định chế độ xã hội chủ nghĩa là “không thể đảo ngược”.

Sai một lần có thể là một lựa chọn lịch sử. Nhưng thấy hậu quả mà vẫn không chịu sửa thì lại là một chuyện khác.

Tôi đem chuyện này nói với một ông bạn.

Ông ấy nghe xong, bảo:

– Cái này người ta gọi là NGU LÂU.

Với tôi, sự ngoan cố và thất bại của Cuba cũng là một minh chứng nữa cho sự phá sản của chủ nghĩa cộng sản.


 

ĐƯỢC VỖ TAY, NÓI CHUYỆN NỘP – Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

  Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

“Con Người sắp bị nộp vào tay người đời!”.

“Chúng ta thản nhiên lao xuống vực sau khi đặt trước mắt một vật gì đó để khỏi thấy vực sâu!” – Blaise Pascal.

Kính thưa Anh Chị em,

Những lời ngưỡng mộ cũng có thể che khuất một vực sâu. Tin Mừng hôm nay cho biết, giữa lúc mọi người kinh ngạc trước những việc Chúa Giêsu làm, Ngài nói với các môn đệ rằng Thầy của họ sắp bị nộp vào tay người đời – ‘được vỗ tay, nói chuyện nộp!’.

“Nhưng các ông sợ không dám hỏi lại Người về lời ấy”. Điều làm họ vấp váp là một nỗi sợ chưa gọi thành tên: Đấng vừa tỏ quyền năng trước mắt mọi người lại sắp rơi vào tay người đời. Có thể họ đã nhận ra một Đấng mạnh hơn sự dữ; nhưng chưa thể nhận ra Ngài trong dáng vẻ của một người không tự cứu mình. Họ muốn ở lại với hình ảnh một vị Thầy đầy quyền năng; lời “sắp bị nộp” làm hình ảnh ấy rạn ra. Vì thế, câu hỏi nghẹn lại trong cổ họ. Tiếng vỗ tay bên ngoài càng lớn, sự im lặng giữa Thầy và trò càng sâu.

Các môn đệ sợ hãi; Chúa Giêsu rồi cũng sẽ sợ hãi. Nhưng Ngài không giấu nỗi sợ, mà đưa nó vào cầu nguyện: “Lạy Cha, nếu Cha muốn, xin cất chén này xa con!”; rồi thưa tiếp: “Xin đừng làm theo ý con, mà làm theo ý Cha!”. Sự khác biệt không nằm ở chỗ ai can đảm hơn, mà ở chỗ nỗi sợ được đưa về đâu. “Chúng ta cần xin ơn để không chạy trốn khi thập giá đến!” – Phanxicô.

Giảng Viên cũng chỉ ra con đường không ai tránh khỏi: “Đừng chờ đến ngày tai ương ập tới” – bài đọc một. Tác giả không gọi tuổi trẻ là phù vân vì nó đẹp; ông gọi nó là phù vân vì ngay lúc đang đẹp, nó đã trôi. Chúng ta không thể trú ẩn trong điều đang trôi khỏi tay mình. Đừng đợi thân xác hao mòn mới hỏi đời mình đi về đâu. Vì thế, lời đáp ca “Lạy Chúa, trải qua bao thế hệ, Ngài vẫn là nơi chúng con trú ẩn” phải được cất lên từ bây giờ trong hoán cải và đổi mới.

Trong cuộc sống, như các môn đệ, một lời khen có thể giữ chúng ta ở lại với thành công lâu hơn chính thành công ấy. Nhưng một mất mát, một nỗi sợ bất ngờ nào đó vẫn có thể kéo chúng ta về với điều mình muốn chạy trốn. Hãy đem nỗi sợ ấy vào lời cầu nguyện và nhớ đến ngày cuối, ngày không làm hôm nay tối đi; nó nhắc chúng ta đang sống trước mặt Ai. “Người có niềm hy vọng sống khác đi; người hy vọng đã được ban tặng hồng ân của một đời sống mới!” – Bênêđictô XVI.

Anh Chị em,

Thập giá là nơi lời “nộp vào tay người đời” đi tới tận cùng. Tiếng tung hô đã tắt; từ tay người đời, Đức Kitô trao mình vào tay Cha: “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha”. Cha không cất cái chết khỏi Con, nhưng dang tay đón lấy Con. Phục Sinh là lời đáp của Cha, không cần một tiếng vỗ tay. Vực sâu vẫn còn đó; nhưng Con Thiên Chúa không đặt gì trước mắt chúng ta để che nó. Ngài đã đi qua và mở một lối về tay Cha. Không lạ gì, ‘được vỗ tay, nói chuyện nộp!’.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, ngày con vui, cho con nhớ ngày cuối; ngày con sợ, cho con biết cầu nguyện; và khi phải buông tay, xin dang tay đón con!”, Amen.

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

*****

 Lời Chúa Thứ Bảy Tuần XXV Thường Niên, Năm Chẵn:

https://www.vaticannews.va/vi/loi-chua-hang-ngay/2026/09/26.html

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca.

43b Khi ấy, đang lúc mọi người còn bỡ ngỡ về tất cả các việc Đức Giê-su làm, thì Người nói với các môn đệ rằng: 44 “Phần anh em, hãy lắng tai nghe cho kỹ những lời sau đây: Con Người sắp bị nộp vào tay người đời.” 45 Nhưng các ông không hiểu lời đó, vì đối với các ông, lời đó còn bí ẩn, đến nỗi các ông không nhận ra ý nghĩa. Nhưng các ông sợ không dám hỏi lại Người về lời ấy.


 

ĐÚNG – VẪN PHẢI IM – Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

“Thầy là Đấng Kitô của Thiên Chúa!”.

“Thinh lặng là một thành phần thiết yếu của truyền thông; thiếu nó, những lời giàu nội dung không thể tồn tại!” – Bênêđictô XVI.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay cho thấy, có những lời đúng vẫn cần thinh lặng cho đến khi có thể nói trọn nghĩa. Phêrô gọi Chúa Giêsu là “Đấng Kitô”; nhưng chỉ thập giá và Phục Sinh mới tỏ hết danh xưng ấy. Vì thế, Phêrô ‘đúng, vẫn phải im’.

Trước hết, câu hỏi “Anh em bảo Thầy là ai?” chỉ đến sau cuộc cầu nguyện của Chúa Giêsu. Luca ghi: “Đức Giêsu cầu nguyện một mình. Các môn đệ cũng ở đó với Người”. Các ông ở bên Thầy, nhưng có lẽ chưa cùng Thầy cầu nguyện. Phêrô trả lời đúng: “Thầy là Đấng Kitô của Thiên Chúa”; nhưng lời ấy xem ra chưa được sinh ra từ sự hiệp thông với Thầy trong cầu nguyện. Nó còn mang dáng dấp một kết luận từ những điều người ta truyền nhau về Thầy. Ông gọi đúng tên, nhưng chưa hiểu điều tên gọi ấy đòi hỏi. “Chúa Giêsu có nhiều người yêu mến Nước Trời của Ngài, nhưng ít người mang thập giá Ngài!” – Thomas à Kempis.

Vì thế, Chúa Giêsu nghiêm giọng truyền các ông không được nói điều ấy với ai. Ngài không bác lời Phêrô; Ngài thanh luyện ý nghĩa ông đặt vào đó. “Đấng Kitô” rất dễ gợi vinh quang và quyền lực. Ngay sau đó, Ngài nói đến đau khổ, sự loại trừ, cái chết và Phục Sinh. Trước khi rao giảng Đấng Kitô, Phêrô phải cùng Thầy sống trọn danh xưng ấy. Bằng không, ông có thể dùng một lời đúng để loan báo một Đức Kitô không đúng. Bởi thế, ông ‘đúng, vẫn phải im’.

Giảng Viên gọi đúng khoảnh khắc ấy: “Một thời để làm thinh, một thời để lên tiếng”. Phêrô đang đứng giữa hai thời: đã có lời đúng, nhưng chưa đến lúc nói, vì chưa hiểu trọn nghĩa. Sự im lặng không xoá lời tuyên xưng; nó để Thiên Chúa “làm mọi sự hợp thời nên xinh đẹp”. Có những lời cũng phải được thời gian của Chúa làm cho chín. Trong khi chờ đợi, Thánh Vịnh đáp ca chỉ cho người môn đệ biết phải nương vào đâu: “Chúc tụng Chúa là núi đá cho tôi nương ẩn”. Tựa vào Núi Đá, người môn đệ không cần đi trước giờ của Thiên Chúa.

Như Phêrô, chúng ta có thể nói về Chúa khi chưa sống đủ lâu với Ngài. Điều đáng sợ không chỉ là nói sai, nhưng còn là nói đúng quá sớm: miệng đã tuyên xưng, đời sống chưa theo kịp. Có lúc, im lặng không phải hèn nhát, nhưng là thành thật nhận rằng mình còn phải hoán cải cho kịp lời mình nói. “Thà im lặng mà sống thật, còn hơn nói mà đời mình không như thế!” – Ignatiô Antiôkia.

Anh Chị em,

Đức Kitô không chỉ giải nghĩa danh xưng ấy bằng lời; Ngài sống nó đến cùng. Trước những người kết án, Ngài không biện hộ; trên thập giá, Ngài để tình yêu nói Ngài là ai. Phục Sinh là lời Chúa Cha nói sau sự vâng phục đến chết của Người Con. Từ đó, lời Phêrô không còn dựa trên điều người ta nói, nhưng trên những dấu đinh, ngôi mộ trống và câu hỏi của Thầy bên bờ hồ: “Con có yêu mến Thầy không?”. Trước Vượt Qua, ông ‘đúng, vẫn phải im’; sau Vượt Qua, ông không thể không nói.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, dạy con im khi chưa hiểu; ở lại khi chưa đến giờ; và biến lời tuyên xưng thành chứng từ!”, Amen.

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

*****

Lời Chúa Thứ Sáu Tuần XXV Thường Niên, Năm Chẵn: 

https://tonggiaophanhue.net/loi-chua/bai-doc-trong-thanh-le/…

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca.

18 Hôm ấy, Đức Giê-su cầu nguyện một mình. Các môn đệ cũng ở đó với Người, và Người hỏi các ông rằng : “Dân chúng nói Thầy là ai?” 19 Các ông thưa: “Họ bảo Thầy là ông Gio-an Tẩy Giả, nhưng có kẻ thì bảo là ông Ê-li-a, kẻ khác lại cho là một trong các ngôn sứ thời xưa đã sống lại.” 20 Người lại hỏi: “Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai?” Ông Phê-rô thưa: “Thầy là Đấng Ki-tô của Thiên Chúa.” 21 Nhưng Người nghiêm giọng truyền các ông không được nói điều ấy với ai.

22 Người còn nói: “Con Người phải chịu đau khổ nhiều, bị các kỳ mục, thượng tế cùng kinh sư loại bỏ, bị giết chết, và ngày thứ ba sẽ trỗi dậy.”


 

Hãy gắng trở nên người công chính, đạo đức, giàu lòng tin và lòng mến, hãy gắng sống nhẫn nại và hiền hòa. (1 Tm 6:11)- Cha Vương

Tạ ơn Chúa, một ngày mới để yêu thương và được yêu thương trong Chúa. Đừng quên nhau và thể’ giới này trong lúc cầu nguyện nhé

Cha Vương

Thứ 6: 25/09/2026.    (CN-22)

TIN MỪNG: Phần anh, hỡi người của Thiên Chúa, hãy tránh xa những điều đó; hãy gắng trở nên người công chính, đạo đức, giàu lòng tin và lòng mến, hãy gắng sống nhẫn nại và hiền hòa. (1 Tm 6:11)

SUY NIỆM: Là một người Kitô hữu, có bao giờ bạn nghĩ rằng những hành động và lựa chọn trong ngày của bạn có ảnh hưởng đến những người chung quanh không? Cuộc đời của bạn cũng giống như là một “bài giảng”.  Mình xin lỗi trước nhé, những ví dụ sau đây không có ý chỉ trích các nhà giảng thuyết đâu nhưng để diễn tả cuộc đời của mỗi người mà thôi. Như mình đã nói, cuộc đời của bạn cũng giống như là một “bài giảng”. Có những bài giảng dài thật dài nhưng lại rỗng tuếch, có những bài giảng thật xúc tích đánh động tâm hồn của người nghe, có những bài giảng như là một buổi kể truyện… hết chuyện này rồi qua truyện khác, từ chuyện của mình rồi đến chuyện của người khác, rồi lại có những bài giảng như là một chương trình hài kịch ngắn làm cho người nghe cười khúc khích, lại có những bài giảng như là một ca truy tố—soi bói, lên án, vạch  áo cho cả làng xem lưng, rồi lại có những bài giảng toàn nặng về lý thuyết sách vở nhưng nhẹ vệ` ứng dụng làm người nghe cảm thấy nặng đầu, có những bài giảng thật đơn sơ, xúc tích, chân thành mà người nghe cảm thấy như là một quyển Kinh Thánh sống—lời nói đi đôi với việc làm và làm những gì họ dạy và tin . Ví dụ như Mẹ Thánh Teresa, tất cả những gì ngài làm đều  được Phúc Âm hoá, ngài sống và thi hành những điều ngài tin và trở thành nhà giảng thuyết hùng hồn qua những lựa chọn và hành động đơn sơ đúng với tinh thần của Phúc Âm. Có những câu nói của ngài tuy rất đơn sơ nhưng làm cho các nhà phóng viên và giới trí thức phải thinh lặng. Là một người theo Chúa, bạn được mời gọi mỗi ngày để sống và rao truyền tình yêu thương và lòng thương xót của Chúa qua việc bạn quan tâm đến những người xung quanh, đặc biệt là những người đang cần sự giúp đỡ của bạn.

LẮNG NGHE: 

CHÚA giải phóng những ai tù tội,  

CHÚA mở mắt cho kẻ mù loà. 

CHÚA cho kẻ bị dìm xuống đứng thẳng lên, 

CHÚA yêu chuộng những người công chính. (Tv 145-đáp ca, CN 26)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, xin dạy con biết việc con phải làm, cùng khi làm xin Chúa giúp đỡ con, từ khởi sự cho đến hoàn thành đều nhờ bởi ơn Chúa. Amen.

THỰC HÀNH: Tập đặt người khác lên trên ý riêng của mình hôm nay.

Nhạc Sống  Yêu  Thương..

From: Do Dzung

*****

SỐNG YÊU THƯƠNG_LOVE | D.O.N.G | QUỐC KHÁNH-NENITA-SA ANH-THÁI BẢO TRÂM-PHƯỢNG NGHI | VHOPE

Chuyện… vượt biên! Exodus of Vietnamese Boat People….

Lão Ngoan Đồng 

Chuyện… vượt biên! Exodus of Vietnamese Boat People….

Hay nói cho đúng hơn, đó là một cuộc ra đi khổng lồ của người Việt sau năm 1975, một thảm họa nhân đạo của riêng dân tộc Việt Nam, đồng thời cũng là một trong những biến cố di dân đau thương nhất của lịch sử hiện đại.

Đó là một chương sử mà riêng tôi, cũng như rất nhiều người từng trải qua, không muốn nhớ lại. Thế nhưng, có những điều càng muốn quên thì càng không thể quên. Bởi đằng sau hai chữ “vượt biên” không chỉ là một chiếc ghe nhỏ lênh đênh giữa biển cả. Đó là những gia đình bán đi từng món đồ cuối cùng, là những người mẹ ôm con trong đêm tối, là những người cha đem mạng sống của mình đặt cược vào một chuyến đi không biết có ngày trở lại hay không. Và cũng là những người đã ra đi mà không bao giờ tới được bến bờ.

Tôi từng là một trong những người vượt biên sau biến cố tháng Tư năm 1975. Tôi đã đến Philippines và sau đó được định cư tại Hoa Kỳ. Về sau, tôi cũng là một trong số ít người trở lại làm việc với đồng bào vượt biên thông qua các tổ chức ICMC và UNHCR ở Phi, Mã Lai, Thái lan…  trong những năm cuối của một chặng đường đầy nước mắt, mất mát, khổ ải và chết chóc, kéo dài từ năm 1975 đến năm 1995.

Tôi trở lại không phải để kể câu chuyện riêng của mình, mà để chứng kiến và ghi nhớ câu chuyện của những người kém may mắn hơn. Có người sống sót sau nhiều ngày lênh đênh trên biển, nhưng phải mang theo những vết thương tinh thần suốt đời. Có người đến được trại tị nạn nhưng không còn cha mẹ, vợ chồng hay con cái. Có người chỉ còn nhớ mang máng tên của những người đã mất, bởi tất cả giấy tờ, hình ảnh và kỷ niệm đều đã chìm xuống biển.

Một câu hỏi thường trở lại trong tâm trí tôi là, vì sao một đất nước có lịch sử mấy ngàn năm, vừa bước ra khỏi một cuộc chiến tranh khốc liệt, lại chứng kiến hàng triệu người tìm cách rời bỏ quê hương trong những năm được gọi là thời bình?

Đó là câu hỏi mà có lẽ nhiều người từng đặt ra, rồi cuối cùng chỉ biết thở dài. Bởi muốn trả lời, người ta phải nhìn lại cả một giai đoạn lịch sử đầy đau đớn, một giai đoạn đã đẩy hàng triệu gia đình vào cảnh túng quẫn, ly tán và tuyệt vọng.

Người dân miền Nam đã gánh chịu chiến tranh trong gần hai mươi năm. Họ từng sống giữa bom đạn, từng nhiều lần bỏ nhà cửa chạy loạn, từng phải dựng lại cuộc đời từ những gì còn sót lại. Nhưng trong chiến tranh, dù gian nan đến đâu, nhiều người vẫn còn có cơ hội học hành, làm ăn, nuôi sống gia đình và hy vọng vào một ngày mai tốt đẹp hơn.

Gia đình tôi cũng từng nhiều lần phải chạy giặc, phải bỏ lại nhà cửa, ruộng vườn, công việc và những gì đã gây dựng. Từ Bình Định vào Sài Gòn, chúng tôi đã không ít lần phải làm lại cuộc đời. Thế nhưng sau tháng Tư năm 1975, cảm giác mất mát không còn chỉ đến từ bom đạn. Nó đến từ sự thay đổi đột ngột của cả một đời sống, từ công việc, học hành, tài sản cho tới quyền được tự quyết định tương lai của mình.

Những gì xảy ra sau năm 1975 không thể chỉ được tóm gọn bằng câu nói rằng có “triệu người vui, triệu người buồn”. Với rất nhiều gia đình miền Nam, đó là một thời kỳ mà con đường sống dần dần bị thu hẹp. Các chính sách cải tạo công thương nghiệp, kiểm kê và tịch thu tài sản, đưa dân đi vùng kinh tế mới đã làm đảo lộn đời sống của hàng triệu người. Chế độ phân biệt lý lịch tiếp tục ảnh hưởng đến việc học hành, nghề nghiệp và tương lai của con cái họ.

Hàng trăm ngàn sĩ quan, viên chức, cán bộ và những người từng phục vụ cho chính quyền miền Nam bị đưa vào các trại tù được gọi bằng cái tên nhẹ nhàng là “học tập cải tạo”. Nhiều người được hứa rằng họ sẽ trở về trong một thời gian ngắn, nhưng rồi phải ở lại nhiều năm. Gia đình họ sống trong cảnh chờ đợi, thiếu thốn và bất an. Không ít người trở về với sức khỏe suy kiệt, cũng có người không bao giờ trở về.

Trong hoàn cảnh đó, vượt biên đối với nhiều người không phải là một cuộc phiêu lưu, càng không phải là một lựa chọn dễ dàng. Đó là quyết định được đưa ra sau khi mọi cánh cửa khác gần như đã đóng lại. Người ta ra đi vì sợ không còn tương lai cho con cái. Người ta ra đi vì không thể tiếp tục sống trong cảnh thiếu thốn, bị kiểm soát và không nhìn thấy lối thoát. Người ta ra đi vì muốn tìm một nơi mà công sức của mình có thể đổi lấy một đời sống bình thường.

Có người ra đi bằng đường biển. Có người vượt biên qua Campuchia, qua Lào hoặc theo những con đường bí mật khác. Có người đi theo các chương trình di dân có tổ chức, đoàn tụ gia đình, chương trình HO và những chương trình nhân đạo quốc tế. Nhưng trong ký ức của thế giới, hình ảnh tiêu biểu nhất vẫn là những chiếc thuyền mong manh chở đầy người trên biển Đông, những con người đặt sinh mạng vào tay sóng gió.

Theo các thống kê quốc tế và những nghiên cứu lịch sử, trong giai đoạn từ năm 1975 đến năm 1995, khoảng 1,5 đến hơn 2 triệu người Việt đã rời khỏi đất nước bằng nhiều con đường khác nhau. Con số chính xác khó xác định, vì nhiều chuyến đi không được ghi nhận, nhiều người mất tích không để lại danh sách, và cách thống kê của từng quốc gia, từng tổ chức cũng không hoàn toàn giống nhau.

Riêng số người sống sót và đến được các trại tị nạn thường được ước tính vào khoảng gần 800.000 người. Họ đến các trại tị nạn ở Đông Nam Á và một số nơi khác, trong đó có Malaysia, Indonesia, Philippines, Hồng Kông, Thái Lan và Singapore. Từ những trại tị nạn ấy, nhiều người được định cư tại Hoa Kỳ, Canada, Úc, Pháp, Đức và các quốc gia khác. Một bộ phận khác phải hồi hương theo các chương trình quốc tế hoặc vì không còn con đường nào khác.

Nhưng những con số ấy chỉ nói được một phần của sự thật.  Không có bảng thống kê nào ghi đủ tên những người chết vì đói khát, bệnh tật, bão tố, đắm tàu hay hải tặc. Không ai biết chính xác bao nhiêu người đã bị ném xuống biển, bao nhiêu phụ nữ bị hãm hiếp, bao nhiêu trẻ em đã chết trong vòng tay cha mẹ. Nhiều người mất tích không bao giờ được tìm thấy. Nhiều gia đình đến được bến bờ nhưng đã mất một nửa, hoặc hơn một nửa, những người thân cùng đi.

Một số nghiên cứu ước tính số người chết hoặc mất tích trên biển lên đến hàng trăm ngàn. Những con số khác nhau không làm cho sự mất mát nhẹ đi. Dù là vài chục ngàn, hàng trăm ngàn hay một con số nào khác, mỗi người mất đi vẫn là một cuộc đời, một gia đình và một khoảng trống không gì bù đắp được.

Riêng trong đợt di tản cuối tháng Tư năm 1975, khoảng 125.000 người đã rời khỏi Việt Nam. Nhưng đó mới chỉ là khởi đầu của một cuộc ra đi kéo dài suốt hai thập niên. Sau đó là những đợt vượt biên âm thầm, diễn ra trong đêm, ở các bến sông, bến biển và những vùng ven biên giới. Người ra đi không biết mình sẽ tới đâu. Người ở lại không biết bao giờ sẽ nhận được tin. Có những gia đình chờ đợi nhiều năm chỉ để biết rằng người thân của mình đã không còn.

Nhìn lại, không thể phủ nhận rằng nhiều người đã ra đi vì không còn tin vào một tương lai có thể sống được trong hoàn cảnh lúc bấy giờ. Những lời hứa về một xã hội bình đẳng, tự do, no ấm và hạnh phúc từng rất đẹp trên giấy tờ. Nhưng đời sống thực tế lại quá phũ phàng. Khi những khẩu hiệu lớn lao không đem lại cơm ăn, việc làm, quyền học hành hay sự an toàn cho gia đình, người dân chỉ còn biết tự tìm lấy một con đường sống.

Vì vậy, họ xuống thuyền. Họ không mang theo nhiều hành lý. Có khi chỉ vài bộ quần áo, một ít lương khô, vài chỉ vàng giấu kín và một tấm hình gia đình. Nhưng thứ họ mang theo nhiều nhất là nỗi sợ và niềm hy vọng. Sợ biển cả, sợ hải tặc, sợ bị bắt, sợ chết. Nhưng trên tất cả, họ sợ phải tiếp tục sống một cuộc đời không còn lối thoát.

Có người gọi họ là “bỏ chạy”. Có người gọi họ là “phản bội”. Nhưng trước khi phán xét, hãy thử hình dung một gia đình phải bán căn nhà cuối cùng, giao mạng sống cho một người tổ chức xa lạ, rồi chen chúc trên một chiếc ghe nhỏ giữa biển đêm. Không ai biết chắc mình sẽ sống hay chết. Không ai ra đi vì nghĩ rằng phía trước là dễ dàng. Họ ra đi vì phía sau đã trở nên quá tuyệt vọng.

Đó là lý do cuộc vượt biên của người Việt cần được nhìn như một thảm họa nhân đạo, chứ không chỉ như một sự kiện chính trị. Trong thảm họa ấy có những nguyên nhân lịch sử, chính sách và xã hội cụ thể. Nhưng bên dưới tất cả vẫn là những con người bình thường muốn được sống, được làm việc, được nuôi con và được giữ lấy phẩm giá của mình.

Ngày nay, hàng triệu người Việt đang sống ngoài quê hương. Nhiều cộng đồng được hình thành từ những chuyến ra đi năm xưa. Những ngôi nhà, cơ sở kinh doanh, trường học, hội đoàn và thế hệ trẻ ở hải ngoại là kết quả của biết bao hy sinh. Nhưng không nên chỉ nhìn thấy thành công sau cùng mà quên cái giá đã phải trả.

Đằng sau mỗi gia đình định cư được là một chuyến đi đầy hiểm nguy. Đằng sau mỗi người sống sót là những người đã nằm lại dưới lòng biển. Đằng sau mỗi cuộc đoàn tụ là những năm tháng trong trại tị nạn, những lá thư thất lạc, những cuộc chờ đợi mỏi mòn và những nấm mồ không tên.

Tôi viết lại những điều này không phải để khơi thêm hận thù, cũng không nhằm phủ nhận nỗi đau của bất cứ ai trong chiến tranh. Tôi chỉ muốn nhắc rằng lịch sử không nên bị thu gọn thành những khẩu hiệu của bên thắng hay bên thua. Lịch sử còn là tiếng khóc của những đứa trẻ mất cha, là người mẹ đứng bên bến cảng chờ tin con, là người tù cải tạo trở về sau nhiều năm, và là những người đã chết giữa biển khơi mà không có một nấm mồ.

Hai mươi năm, từ 1975 đến 1995, là một khoảng thời gian đủ dài để một thế hệ trưởng thành, nhưng cũng đủ dài để hàng triệu người phải rời bỏ quê hương. Có người đi rồi không bao giờ trở lại. Có người trở lại với thân phận khác, mang trong lòng cả tình yêu lẫn nỗi đau đối với đất nước. Có người đã dành phần đời còn lại để giúp đỡ những người vượt biên sau mình.

Riêng tôi, mỗi lần nhớ về những năm tháng ấy, điều còn lại không phải là những con số. Điều còn lại là khuôn mặt của từng con người, những người đã tin rằng ở phía bên kia biển cả, họ có thể tìm được một cơ hội sống.

Nhưng không phải ai cũng đến được bến bờ.  Có những chiếc ghe mất tích giữa biển khơi, không một lời báo tin, không một tấm bia, không một nấm mồ để người thân tìm đến thắp nhang. Có những người mẹ ôm con cho đến khi kiệt sức. Có những đứa trẻ chết trong vòng tay cha, trong khi người cha vẫn phải tiếp tục cầm lái giữa đại dương để cứu những người còn sống. Có những người vợ, người chồng, người anh, người chị ra đi rồi vĩnh viễn không trở lại, để lại phía sau những gia đình sống nhiều năm trong chờ đợi và hy vọng mong manh.

Những người đã nằm xuống giữa biển cả không phải là những con số vô danh. Mỗi người trong họ từng có một mái nhà, một gia đình, một công việc, một ước mơ và những người thương yêu đang chờ đợi. Họ đã mất mạng trong hành trình tìm lấy một đời sống bình thường, một tương lai cho con cái, một cơ hội được sống với phẩm giá của con người.

Nhờ những hy sinh ấy, nhiều người khác đã đến được bến bờ. Họ sống sót, được định cư, được học hành, làm việc, lập gia đình và xây dựng một cuộc đời mới. Những cộng đồng người Việt ở hải ngoại, những ngôi nhà, trường học, cơ sở kinh doanh và thế hệ trẻ được sinh ra trong tự do, đều ít nhiều được hình thành từ những chuyến đi đầy máu và nước mắt ấy.

Nhưng không nên chỉ nhìn vào những người đã đến nơi mà quên những người đã không bao giờ tới được. Không nên chỉ nói về thành công của người sống sót mà bỏ quên cái giá mà người đã khuất phải trả. Bởi phía sau mỗi gia đình đoàn tụ là một gia đình khác đã tan vỡ. Phía sau mỗi người được định cư là những người có thể đã nằm lại dưới đáy biển. Phía sau sự bình yên hôm nay là những tháng ngày mà bao người Việt kém may mắn đã phải đem chính mạng sống của mình đổi lấy một cơ hội sống cho người khác.

Vì vậy, khi nhắc đến cuộc vượt biên sau năm 1975, xin đừng chỉ gọi đó là một cuộc di dân, một làn sóng tị nạn hay một biến cố chính trị. Hãy nhớ rằng đó còn là một thảm họa nhân đạo, một vết thương sâu trong lịch sử dân tộc và là nỗi đau của hàng triệu con người.

Xin hãy nhớ đến những người đã ra đi trong đêm tối.

Xin hãy nhớ đến những người đã chết giữa biển khơi.

Xin hãy nhớ đến những gia đình bị chia lìa, những đứa trẻ lớn lên không còn cha mẹ, những người sống sót nhưng mang vết thương suốt đời.

Họ đã không chết vô nghĩa. Sự hy sinh của họ đã mở ra con đường sống cho những người đi sau. Nhờ họ, bao người khác đã có cơ hội đặt chân lên đất liền, được sống, được học hành, được làm việc, được nuôi dưỡng con cái và được xây dựng một tương lai mà những người đã nằm xuống không bao giờ được nhìn thấy.

Nhưng chính vì vậy, những người đang sống hôm nay càng phải biết trân trọng tự do, biết thương yêu đồng bào, biết bảo vệ phẩm giá con người và biết nhìn lại lịch sử bằng sự thật, lòng nhân ái cùng sự khiêm nhường.

Biển cả đã giữ lại quá nhiều người Việt.

Những con sóng năm xưa có thể đã lặng, nhưng nỗi đau của những người nằm xuống vẫn còn đó. Nó nằm trong ký ức của những người sống sót, trong những gia đình không còn đủ đầy, trong những bàn thờ không có hài cốt và trong lương tâm của những thế hệ hôm nay.

Chúng ta có thể tiếp tục cuộc đời của mình, nhưng không được phép quên rằng đã có những người Việt kém may mắn hơn phải chết để những người khác có cơ hội sống.  Và đó là điều đau xót nhất, cũng là món nợ lớn nhất mà người còn sống phải mang theo suốt đời.

Huy Phan


 

Giấc ngủ qua lời khuyên của Hoa Đà

Hoa Đà vốn là một vị lương y nổi tiếng thời Đông Hán trong lịch sử Trung Hoa, được xem như thần y, cũng là một trong những ông tổ của Đông y, do đó cách trị bệnh của ông từ xưa đến nay luôn được nhiều người coi trọng.

Từ xưa đến nay, các chuyên gia sức khỏe bao giờ cũng khuyên con người phải ăn, ngủ và làm việc điều độ, hợp lý. Nhưng đa số chúng ta lại thiếu quan tâm đến chất lượng giấc ngủ vì cho đó là hoạt động sinh lý bình thường.

Danh y Hoa Đà trong suốt quá trình chăm sóc bệnh nhân, ông đã đúc kết ra 4 lời khuyên về giấc ngủ để giữ gìn sức khỏe.

Danh y Hoa Đà.

 Điều thứ nhất: ” Phải đi ngủ trước giờ Tý (từ 11 giờ đêm đến 1 giờ sáng) “

Theo quan niệm dưỡng sinh tại Thiếu Lâm tự, giấc ngủ là một phần vô cùng quan trọng trong đời người. Nếu trước giờ Tý mỗi ngày không ngủ được, thì khi đi khám bệnh, rất nhiều lão tăng y sẽ nói: “Không chữa cho bạn”. Kỳ thực không phải là không chịu chữa trị, mà là. . . chữa không hết được.

Tại sao nói như thế?

Người mất ngủ thâm niên, bất luận là nam hay nữ thì gan đều đã trực tiếp bị tổn thương, lâu ngày sẽ tổn thương thận, dần dần tạo thành khí huyết của thân thể bị thiếu hụt, mỗi ngày khi soi gương sẽ cảm thấy sắc mặt xám xịt, không tốt.

Đến lúc đó cho dù bạn mỗi ngày dùng sản phẩm chăm sóc da, các loại chất bổ, rèn luyện thân thể, cũng không thể bù đắp lại những tổn thương do ngủ chưa đủ hoặc là giấc ngủ không tốt.

Vì vậy, dậy sớm thì không sao nhưng tuyệt đối không được ngủ trễ. Rất nhiều người tinh thần không phấn chấn, phần nhiều là do có thói quen ngủ muộn, thường dễ bị tổn thương gan, tổn thương mật, thiếu tinh lực.

Người như vậy con mắt thường không tốt, tâm trạng thường bị ức chế, thời gian vui vẻ ít đi (khí trong phổi cũng chịu ảnh hưởng, là nguyên nhân của việc nhịp thở không ổn định liên tục trong khoảng thời gian dài). Có nhiều người cho rằng buổi tối ngủ trễ, ban ngày có thể ngủ bù, thực ra là không bù lại được, nếu như ngủ không được, ngủ không đủ thì còn tồi tệ hơn nữa, khí huyết thân thể sẽ bị hao tổn hơn phân nửa.

  1. Điều thứ hai: ” Khi ngủ không được suy nghĩ “

“Xem như mình không có thân thể, hoặc như là người đang ở trong nước, hòa tan ngón chân cái trước, rồi đến các ngón chân khác, tiếp theo là bàn chân, bắp chân, đùi… từng bước hòa tan, cuối cùng như không tồn tại, tự nhiên thiếp đi”. Đây chính là trạng thái tinh thần tốt khi thiền định đi vào giấc ngủ: “Tâm ngủ trước, mắt ngủ sau”.

Nhiều lúc, nguyên nhân của mất ngủ là do lúc đi ngủ trong đầu có nhiều tạp niệm, những lúc như thế này không nên nằm trằn trọc trên giường, để tránh hao tâm tổn sức, lại khó chìm vào giấc ngủ, biện pháp tốt nhất là ngồi dậy một hồi rồi ngủ tiếp.

Trên thực tế, con người ngày nay nếu muốn đi ngủ trước 11 giờ tối, thì chuyện bình ổn cảm xúc trước khi lên giường cũng rất quan trọng, tâm trạng cần có một khoảng thời gian từ từ trầm tĩnh lại. “Tâm ngủ trước, mắt ngủ sau”, chính là đạo lý này.

Tâm ngủ trước, mắt ngủ sau, là cách tốt nhất để đi vào giấc ngủ.

Ảnh minh họa

Nếu như vẫn chưa ngủ được thì trước khi ngủ bạn có thể thử thực hiện động tác gập bụng đơn giản, rồi ngồi xếp bằng tự nhiên hoặc ngồi kiết già trên giường, hai tay xếp chồng lên nhau đặt lên trên chân, hô hấp tự nhiên, cảm giác lỗ chân lông toàn thân nở ra khép lại theo nhịp thở, nếu có ngáp chảy nước mắt thì sẽ có hiệu quả tốt nhất, đến khi muốn ngủ liền ngã xuống ngủ.

  1. Điều thứ ba: ” Buổi trưa nên ngủ một chút hoặc là ngồi im thư giãn dưỡng thần “

Vào buổi trưa (từ 11 giờ sáng đến 1 giờ chiều), nếu không có đủ điều kiện để ngủ, bạn có thể ngồi im tĩnh lặng, nhắm mắt dưỡng thần 15 phút. Những Hòa thượng đều có thói quen chợp mắt vào buổi trưa bằng cách ngồi thiền tại phòng thiền.

Kỳ thực, giữa trưa chỉ cần nhắm mắt thực sự ngủ 3 phút là bằng ngủ 2 giờ, quan trọng là thời gian ngủ phải thích hợp là giữa trưa. Ban đêm nếu ngủ đúng giờ Tý thì 5 phút ngủ tương đương với 6 giờ.

Dậy sớm có lợi cho sự trao đổi chất của cơ thể con người.

Ảnh: internet

  1. Điều thứ tư: ” Nhất định phải dậy sớm “

Một ngày của nhà sư bắt đầu từ tiếng chuông đánh thức vào sáng sớm, cho dù vào mùa đông, cũng sẽ không thức dậy trễ hơn 6 giờ, vào 3 mùa xuân, hạ, thu thức dậy trước 5 giờ. Theo dưỡng sinh, dậy sớm có lợi cho sự trao đổi chất của cơ thể con người.

Chỗ tốt của dậy sớm là có thể loại bỏ một số chất bẩn ra khỏi cơ thể, nếu thức dậy quá muộn, đại tràng (ruột già) không được hoạt động, không thể thực hiện tốt chức năng bài tiết.

Ngoài ra, chức năng tiêu hóa của cơ thể con người hoạt động tốt nhất là vào buổi sáng từ 7 cho đến 9 giờ, là “khoảng thời gian hoàng kim” cho hấp thụ dinh dưỡng. Cho nên, rất không nên ngủ nướng, nguyên nhân gây ra tình trạng choáng váng, mỏi mệt đa phần là do tham ngủ.

Những đúc kết của Hoa Đà cũng là những điều nổi bật trong phép tắc trị bệnh của Đông y: Trị bệnh trị tận gốc, chú trọng dưỡng sinh để nâng cao đề kháng cơ thế chống ngoại tà xâm nhập. Bảo tồn được tam bảo của cơ thể Tinh-Khí-Thần là yếu tố để cơ thể hoạt bát, thần thái tươi tỉnh.

ST


 

Làm thế nào để khỏe mạnh – sống lâu?

 Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe và tuổi thọ của con người. Trong cuộc sống thời hiện đại, mọi người đều quan tâm đến thực phẩm sạch, nguồn nước sạch nguồn dinh dưỡng chính để nuôi sống con người. Nhưng rất nhiều người lại không quan tâm đến vấn đề của sơ thể đó là SỰ ĐÀO THẢI ĐỘC TỐ RA NGOÀI, sau khi đã nạp những nguồn thực phẩm vào .

Bài viết dưới đây sẽ giúp mọi người hiểu 1 phần nào đó về cơ chế đào thải của chính cơ thẻ mình.

Nguồn sưu tầm từ tài liệu của cô Hien Thu Nguyen .

  1. Hãy giúp phổi thải độc, chứ đừng làm hại nó

Vậy bạn thấy ngay nhé, những ai bị bệnh phổi nhất định ho vào giờ dần, tức 3 đến 5 giờ sáng. Phổi là để thở. 3 đến 5 giờ sáng là phổi thải độc.

Nếu mình ngủ dậy, mở cửa sớm mai, không khí trong lành nhất vì qua đêm, bụi lắng hết xuống rồi, khí dương bắt đầu có mà ta thở nhẹ và sâu, thở chủ động thì có gì tốt hơn để giúp phổi thải chất độc từ chính phổi ra. 

  1. Đừng để chất thải trong người quá 7h sáng

Và bạn biết rồi, như đã nêu ở trên, 5 đến 7 giờ là giờ sáng của đại tràng tức ruột già. Giờ này đại tràng thải chất độc, tức là phân. Người khỏe mạnh nhất định đi đại tiện vào giờ này. Tuyệt đối không sai.

Làm sao mà cứ đến giờ này thì bạn muốn đi đại tiện và không thể khác được. Làm sao ngày bạn chỉ đi đại tiện 1 giờ duy nhất là giờ mão. Nếu bạn đi đại tiện không đúng giờ này là rất không tốt cho đại tràng và hệ tiêu hóa. Mà lưu ý rằng, bạn cần biết cách để đi hết chất thải ra ngoài, cho đại tràng sạch (Tôi sẽ viết riêng 1 bài về điều này).

Nếu 5 đến 7 giờ sáng mà bạn vẫn ngủ, tức chất thải đang ách lại trong ruột già. Theo bạn có tốt không? Phân là chất độc. Chất độc lẽ ra phải được tống khứ ra khỏi cơ thể mà vào giờ này, chỉ vì bạn thèm ngủ hoặc là có thói quen tai hại – ngủ dậy muộn mà cả cơ thể phải gánh chịu số phân này. 

  1. Muốn sống lâu, nhất định phải ăn sáng

 Giờ tiếp theo là giờ thìn, tức 7 đến 9 giờ. Giờ này của dạ dày. Dạ dày hoạt động vào giờ này. Nếu bạn không ăn sáng trước 7 giờ thì dạ dày bóp cái gì nào. Bóp cái dạ dày rỗng tuếch à?

Dạ dày tiết ra các chất để chuyển hóa thức ăn mà không có thức ăn thì theo bạn tốt hay xấu cho dạ dày nói riêng và cơ thể nói chung?

Có một thông tin mà tôi nghĩ là bạn chưa biết, trong dạ dày có rất nhiều a xít và độ chua trong dạ dày tương đương với độ chua của nước quả chanh đấy nhé. Nếu đến giờ thìn bạn có thói quen không hoặc chưa ăn sáng thì nguy cơ bị bệnh dạ dày rất cao.

Bạn không biết đấy, hệ tiêu hóa là bộ não thứ 2. Còn dạ dày lại là trái tim của bộ não. Nếu dạ dày không bóp, không tiêu hóa thức ăn thì 1 loạt bộ phận tiếp theo bị ảnh hưởng lây. Không chỉ ruột non, ruột già mà cả gan, thận, lá lách, túi mật, tim, phổi… bị ảnh hưởng theo dây chuyền. Tất cả cơ thể chịu ảnh hưởng.

Vậy nên, chẳng may bạn biết ai ngủ trễ, kể cả ngày nghỉ, đến tận 7 giờ sáng thì thức tỉnh họ ngay bằng cách cho họ đọc các thông tin này. 

  1. Làm việc quần quật từ 21h -23h là sát hại Tam tiêu

Bây giờ tôi nói về giờ hợi tức 21 đến 23 giờ đêm. Đây là giờ của tam tiêu.

Nhiều người không hiểu tam tiêu là gì và vai trò quan trọng ra sao. Dễ hiểu thế này: Tam tiêu là ba khoang rỗng trong cơ thể con người gồm có thượng tiêu, trung tiêu và hạ tiêu.

Thượng tiêu là khoang rỗng trên cùng từ miệng xuống tâm vị dạ dày chứa tim và phổi. Trung tiêu là khoang rỗng ở giữa từ tâm vị dạ dày đến môn vị dạ dày chứa tỳ vị. Hạ tiêu là khoang rỗng dưới cùng từ môn vị dạ dày đi tới hậu môn chứa gan và thận. Bạn đã thấy tam tiêu quan trọng chưa nào!

Lại nữa, sự hoạt động của tam tiêu thể hiện ở sự khí hóa đồ ăn, tức là làm cho vật chất trong cơ thể hóa thành khí. Khí này lại hóa thành một chất khác trong cơ thể. Đây là các phản ứng hóa học, sinh học bên trong cơ thể.

Bạn cũng có thể đã từng nghe thấy nói rằng thượng tiêu như mây mù, trung tiêu như bọt nước sủi, hạ tiêu như nước chảy. Nghe rồi chứ ạ. Nhưng nay mới hiểu đúng không nào.

Bạn có giật mình khi nghe thấy rằng tam tiêu chính là cái nhà để ở, chính là cái ví để đựng tiền, chính là cái làn, cái giỏ cho các bà, các mẹ đi chợ, là quần áo để mặc.

Nếu giật mình thì tốt rồi. Giật mình để ngộ ra. Giật mình để quyết tâm thay đổi tư duy, đổi thay thói quen xấu và quyết tâm chăm sóc tam tiêu.

Thêm một ý nữa mà những ai đọc sách đều đã nắm rõ, rằng ở thượng tiêu phổi hô hấp, phân bố khí và chất dinh dưỡng vào các mạch máu và đưa đi khắp cơ thể.

Ở trung tiêu thì lá lách vận hoá, hấp thu tinh hoa của đồ ăn và nước đưa lên phổi. Ở hạ tiêu, các chất tinh hoa được tàng trữ tại thận, các chất cặn bã được tống ra ngoài bằng đại tiện và tiểu tiện.

Khí của hạ tiêu đi xuống chứ không nhận vào thêm. Ngoài ra tam tiêu còn có chức năng bảo vệ lục phủ, ngũ tạng trong cơ thể ta. Đấy, bạn thấy chưa ạ? 

5.Tại sao người ta hay chết lúc 3h sáng: Hãy cứu gan

 Từ 23 giờ đêm đến 1 giờ sáng là giờ của mật. Giờ này mật tiết chất độc ra. Bạn cảm nhận được ngay mà. Bởi miệng đắng. Buổi sáng ngủ dậy, bạn thấy miệng đắng là do mật tiết ra chất độc vào giờ tý đấy nhé.

Xin nhắc lại, theo đông y thì 23 giờ là bắt đầu ngày mới. Ngoài chuyện mật thải độc ra, nếu tại thời điểm ngày mới mà bạn không ngủ, không nghỉ ngơi thì rất có hại cho cơ thể. Hại nhất là mật. Mà mật liên quan chặt chẽ đến gan.

Vậy nên, nếu không muốn đến nghĩa địa sớm, xin đừng thức đến tận giờ tý. Cơ thể bạn, bao gồm cả thân và tâm, không thích bạn đưa họ đến nghĩa địa sớm đâu nhé.

Cuối cùng tôi muốn bàn đến khung giờ sửu, tức từ 1 đến 3 giờ sáng. Đây là giờ của gan. Cũng xin nói luôn rằng có rất nhiều người chết vào giờ này.

Nguyên nhân là do gan có đến 64 chức năng. Khi mà gan yếu, các chức năng này không hoạt động được nữa thì ta chết. Nếu có người nhà bị bệnh nặng, khi thức đêm chăm bệnh nhân, nên lưu ý khung giờ này.

Nếu 1 giờ sáng mà bạn vẫn không ngủ thì rất hại gan. Giờ này gan thải độc. Giờ này gan đang cần bạn nghỉ ngơi nhất, cần bạn ngủ thật sâu nhất. Ấy vậy mà có người lại dại dột đi chống lại gan, làm tổn thương gan. Thật chẳng có cái dại nào dại hơn cái dại này. Rất thương!

Tôi muốn nhấn mạnh đến 1 ý rằng gan và mật hỗ trợ lẫn nhau, gắn kết chặt chẽ với nhau như một. 23 giờ là lúc kinh mạch của túi mật được mở ra. Nếu bạn chưa hoặc không ngủ thì sẽ làm tổn hại lớn tới đảm khí.

Tại sao ư? Bởi tất cả 11 cơ quan bao gồm lục (tức 6) phủ và ngũ (tức 5) tạng đều phụ thuộc vào túi mật. Nếu đảm khí hư, hỏng, yếu, thiếu sẽ dẫn tới việc giảm chức năng của tất cả các bộ phận trong cơ thể. Hơn thế nữa, khả năng miễn dịch giảm xuống.

Nguy hiểm hơn nữa còn ở chỗ nếu đảm khí bị tổn thương (do đảm khí hỗ trợ trung khu thần kinh) thì quý vị có nguy cơ rất cao mắc các bệnh về thần kinh. Đó là lý do tại sao những người mất ngủ triền miên dễ bị các triệu chứng hay bệnh như uất ức, tâm thần phân liệt, bồn chồn, ám ảnh…

Từ 1 đến 3 giờ sáng cần ngủ rất ngon, rất sâu. Bạn nên nhớ nằm lòng rằng đây là thời gian kinh mạch của gan vượng nhất. Lúc này gan thải độc, sản xuất ra lượng máu mới.

Nếu bạn chưa ngủ hay không ngủ, có nguy cơ bạn sẽ có sắc mặt xanh xao, dần dần có thể sẽ mắc các bệnh về gan. Thức khuya vào giờ sửu, bạn rất có nguy cơ bị bệnh viêm gan siêu vi B.

Nguyên nhân rất dễ hiểu, là do cơ thể quá suy nhược, thậm chí bị rối loạn và virus cứ thể mà tấn công, xâm nhập vào cơ thể. Cơ thể yếu quá, bó tay, virus vào tự do, vô tư, thoải mái.

Và bạn cũng giúp tôi ghi tâm khắc cốt rằng tim chủ huyết mạch, tức là làm cho huyết dịch vận hành trong các mạch máu để dinh dưỡng và tư nhuận. Còn gan có chức năng lưu giữ và điều tiết máu.

Vậy nên nếu quá 23 giờ sáng mà không đi ngủ sẽ làm can huyết bất túc dẫn tới tình trạng tim không cung cấp đủ máu. Khi đó tim sẽ đập mạnh, loạn nhịp, run sợ, có thể dẫn đến cao huyết áp, xuất huyết não và nhiều bệnh nguy hiểm khác.

Đấy, ngủ đúng giờ là tối quan trọng. Ngủ đúng giờ còn quan trọng hơn cả ngủ đủ giờ. Nếu ban ngày bạn ngủ suốt cả ngày, dù có ngủ từ 8 giờ sáng đến 8 giờ tối cũng thua ngủ sâu vài tiếng lúc cần, tức quãng thời gian cho mật và gan.

From: Xuan Nguyen 


 

TÔI BIẾT ƠN NỀN GIÁO DỤC VIỆT NAM CỘNG HÒA – Nguyễn Ngọc Già

Việt Luận – Viet’s Herald 

Nguyễn Ngọc Già

Văn hóa là cội rễ. Giáo dục là dưỡng chất. Quốc gia nào cũng cần hai yếu tố tối quan trọng này để phát triển. Việt Nam không là ngoại lệ.

Nền giáo dục của Việt Nam hiện nay đang bị chỉ trích mạnh mẽ và lên án dữ dội chưa từng thấy.

Trước 1975, bậc tiểu học và cả trung học hầu như chỉ có bộ sách giáo khoa cũ. Nó được “truyền lại” cho đàn em. Đặc biệt, những gia đình nghèo càng coi trọng “của gia truyền” này, bởi lý do đơn giản: Tiết kiệm. Đứa học trò nhà nào nghèo quá, có quyền mượn ở thư viện trường. Nhưng làm dơ, rách thì phải đền.

Đồng phục? Nhà trường chỉ bán “phù hiệu”, mua mấy cái cũng được, về tự may vào áo, phía bên trái ngực trên. Quần áo thì phụ huynh tự lo cho con em mình, với duy nhất yêu cầu (hầu hết là) “áo trắng, quần xanh đen”. Đứa học trò nào nghèo quá, được quyền “thừa hưởng” quần áo cũ của “tiền bối” với duy nhất một yêu cầu: thay phù hiệu. Nếu học đúng trường mà anh chị từng học, khỏi thay, cứ y như vậy, bận đi học.

Thế hệ chúng tôi không được dạy những cái gọi là “cải cách”. Không biết cách đánh vần “cờ lờ mờ vờ” hay “vờ tờ vờ” v.v… Tuy nhiên, chúng tôi vẫn đọc thông viết thạo. Môn Văn Chương, “điểm tám” trở thành tuyệt đối. Hy hữu lắm mới có đứa đạt “điểm chín”, lúc đó phải nói, bài văn vô cùng độc đáo.

Screenshot

Chúng tôi cũng không phải “học thêm, học bớt”. Hồi xưa chỉ có “học phụ đạo” – lớp học cho những đứa học trò nào vì bận phụ giúp gia đình hay học yếu quá, theo không kịp bạn bè. Thầy – Cô thấy thương, tự mở lớp giúp tụi nó. Không tốn tiền bạc gì hết.

Tiếng Việt vốn “đơn âm”, nên chúng tôi không được dạy “tách tiếng” với những “tròn tròn vuông vuông tam giác”. Tiếng Anh vì là “đa âm”, nên Thầy – Cô nào cũng dạy “phải ráng nối âm (linking sound) nha em”. Ví dụ “the voice of freedom” phải nối âm “c” vào âm “of” hoặc giả, không được phép đọc “bờ-ra-xin” để chỉ nước Ba Tây. Thầy – Cô dạy tiếng Anh (hay tiếng Pháp) không bao giờ mắng học trò bằng tiếng Việt hoặc tiếng Anh  là “con vật này hay con thú kia”. Thầy – Cô dạy các môn khác cũng như vậy.

Thời đó, tú tài đôi là “ngon” lắm rồi!

Chúng tôi được dạy mọi điều theo cách giản dị, dễ hiểu mà nhớ lâu. Ví dụ, hai chữ “trách nhiệm”, thầy cô nào cũng giảng nghĩa thật đơn giản mà thấm thía đến kỳ lạ thông qua “hình tròn”. Cô giáo vẽ lên bảng một hình tròn và nói nếu chỉ “khuyết một tí xíu” cũng là “không tròn trách nhiệm”. Chúng tôi không được dạy “thiếu trách nhiệm”. Biết thế nào là “thiếu với đủ”?! Trách nhiệm mà!

Ngoài xe cộ “chạy đầy đường”, trước 1975, Sài Gòn vô cùng hiếm thấy các loại “giáo sư – tiến sĩ”.

Mặc dù thời xưa ở miền Nam Việt Nam, ai cũng biết là đa đảng, nhưng nền giáo dục Việt Nam Cộng Hòa không đào tạo “giáo sư – tiến sĩ chuyên ngành xây dựng đảng”.

Ba Thức nói rằng ông cũng không dạy anh yêu nước. Ông chỉ hướng cho con mình sống có nhân cách và có ích, đừng vì mình mà làm tổn thương người khác

Chính khách thời bấy giờ cạnh tranh gay gắt không thua gì các nước dân chủ bây giờ. Nền chính trị lúc đó, quả xác đáng gọi là “chính trường” như người miền Nam cũng thường gọi: thương trường, vận động trường, kịch trường, phim trường v.v… – nơi phải diễn ra sự cạnh tranh khốc liệt của những tài năng trên các lãnh vực – biểu hiện của tự do đích thực.

Screenshot

Thế hệ những “thằng con nít” như chúng tôi được dạy như ông Trần Văn Huỳnh dạy con trai mình:

“…Có một lần, Thức bỏ nhà đi bụi suốt mấy tháng hè hồi lớp tám. Chính nhờ lời cha dạy, phải học để làm người có ích đã kéo Thức ra khỏi những tháng ngày hư hỏng, trở lại mái trường với một quyết tâm học cho giỏi để gia đình không phải lo lắng vì mình. Ba Thức nói rằng ông cũng không dạy anh yêu nước. Ông chỉ hướng cho con mình sống có nhân cách và có ích, đừng vì mình mà làm tổn thương người khác, thì tự nhiên trẻ con lớn lên sẽ sống có trách nhiệm với mình và đất nước…”.

Tôi mãi mãi biết ơn nền giáo dục Việt Nam Cộng Hòa.

Nguyễn Ngọc Già 


 

Zelensky trả 2 người lính Triều Tiên về Hàn Quốc sinh sống

Nguyễn Tấn Lượng – ỦNG HỘ UKRAINE ĐỘC LẬP TỰ DO

Zelensky trả 2 người lính Triều Tiên về Hàn Quốc sinh sống bởi lý do nhân đạo 2 người lính này không muốn trở về đất nước

  1. Bối cảnh bắt giữ — hai người lính đặc biệt hiếm hoi

Hai binh sĩ Triều Tiên này bị Ukraine bắt sống tại vùng Kursk (Nga) vào tháng 1/2025, trong lúc chiến đấu hỗ trợ Nga đẩy lùi cuộc đột kích của Ukraine. Điểm đặc biệt: đây là hai tù binh Triều Tiên đầu tiên bị bắt sống kể từ khi Bình Nhưỡng tham chiến năm 2024 — cực kỳ hiếm vì lính Triều Tiên được huấn luyện để tự sát thay vì bị bắt. Chính Zelensky kể lại: một trong hai người, khi biết mình sắp bị bắt, đã cố tự tử — và “sốc khi số phận không cho anh ta chết”.

  1. Vì sao ban đầu Zelensky định trao trả về Triều Tiên chứ không phải Hàn Quốc

Đây là diễn biến quan trọng bị bỏ sót trong tiêu đề: Zelensky từng tuyên bố sẽ trao hai người này cho Kim Jong Un — nhưng với điều kiện đổi lấy tù binh Ukraine đang bị Nga giam giữ. Đây là một đề xuất trao đổi tù binh kiểu cổ điển, không phải hành động nhân đạo đơn thuần.

  1. Vì sao kế hoạch đó bị đảo ngược — chính hai người lính không muốn về nước

Đây là lý do cốt lõi giải thích tại sao cuối cùng họ được chuyển sang Hàn Quốc:

Các tổ chức nhân quyền quốc tế thúc giục Ukraine không trao trả về Bình Nhưỡng, vì lo ngại họ sẽ bị trừng phạt nghiêm khắc (thậm chí xử tử) khi trở về — với tội danh “để bị bắt sống” thay vì chết.

Truyền thông Hàn Quốc đưa tin chính hai người lính này đã bày tỏ nguyện vọng đào tẩu sang Hàn Quốc — không muốn quay về Triều Tiên.

Tháng 6/2026, Hàn Quốc chính thức tuyên bố sẵn sàng tiếp nhận tù binh Triều Tiên — mở đường pháp lý cho việc chuyển giao.

  1. Mục đích chính trị của việc công bố tại LHQ — không chỉ là tin nhân đạo

Zelensky đưa tin này ra giữa bài phát biểu tại Đại hội đồng LHQ (23/9) như một phần trong thông điệp rộng hơn, cực kỳ sắc bén: ông tố cáo Kim Jong Un “dùng người Triều Tiên như tiền tệ” để đổi lấy thứ gì đó từ Nga (được cho là công nghệ vũ khí, hỗ trợ kinh tế), đồng thời liệt kê Nga đang sử dụng công dân của 47 quốc gia khác (Ghana, Nepal, Ấn Độ, Cuba, Yemen…) làm lính đánh thuê hoặc bị lừa gạt tham chiến — kêu gọi trực tiếp các nước này ngăn công dân mình bị lôi kéo vào cuộc chiến.

  1. Bình luận rất đáng chú ý — “chỉ 2 trong số 15.000”

Bình luận trong ảnh (“trong 15.000 lính Triều Tiên triển khai ở Kursk, chỉ có 2 người bị bắt sống”) phản ánh đúng một thực tế đáng sợ đã được nhiều báo cáo xác nhận: mức độ nhồi sọ tư tưởng khiến binh sĩ Triều Tiên thà tự sát còn hơn đầu hàng — tỷ lệ bắt sống gần như bằng 0 so với quy mô lực lượng, một hiện tượng hiếm thấy ngay cả trong các đội quân có kỷ luật thép khác.

  1. Ý nghĩa biểu tượng — vết thương ngoại giao cho Bình Nhưỡng

Việc công khai rằng chính lính của Kim Jong Un muốn đào tẩu sang Hàn Quốc, thay vì trở về “tổ quốc”, là đòn giáng mạnh vào hình ảnh tuyên truyền của Triều Tiên — cho thấy ngay cả những người lính “trung thành nhất” (được chọn đi chiến đấu ở nước ngoài) cũng khao khát tự do khi có cơ hội thực sự lựa chọn.

Tóm lại: Đây không đơn thuần là một cuộc chuyển giao nhân đạo — mà là điểm giao thoa giữa ý chí cá nhân của hai người lính (không muốn chết vì bị coi là “phản bội” khi trở về), áp lực nhân quyền quốc tế, và chiến lược truyền thông của Zelensky nhằm vạch trần cách Kim Jong Un “bán” mạng người dân mình cho Nga, đồng thời cảnh báo hàng chục quốc gia khác đang có công dân bị cuốn vào cuộc chiến này.

Qua hành động nhân đạo này có làm kim jung un quay xe những việc làm sai trái của mình?

#Zelensky #nhandao #hanquoc # kim #un— in Ho Chi Minh City, Vietnam.