Phúc thay người đặt niềm tin cậy vào Chúa (Tv 39, 5c) – Cha Vương

Chúc bình an! Một tuần mới với mọi sự tốt đẹp đến bạn và gia đình nhé. 

Cha Vương

Thứ 2: 16/2/2026 

TIN MỪNG: ĐỨC CHÚA phán như sau: Đáng nguyền rủa thay kẻ tin ở người đời, lấy sức phàm nhân làm nơi nương tựa, và lòng dạ xa rời ĐỨC CHÚA! (Gr 17:5)

SUY NIỆM: Liệu rằng đặt hết niềm tin ở người đời có bảo đảm cho hạnh phúc của bạn không? Có lẽ là KHÔNG vì lòng người thì thay đổi còn Chúa thì không đổi thay. Một bài học mà con người cứ phải học đi học lại đó là họ đặt quá nhiều sự quan tâm và chú ý vào những tạo vật do Thiên Chúa làm ra thay vì tìm kiếm chính Đấng đã tạo dựng nên mọi sự. Người khôn ngoan sống theo đức tin của mình lẽ dĩ nhiên là luôn luôn chọn Chúa vì Ngài là nguồn gốc mọi sự. Thánh Polycarp, khi được quyến rũ để bỏ Thiên Chúa, đã khẳng định trả lời: “Trong 86 năm tôi đã phục vụ Ngài, Ngài đã không bao giờ gây ra bất kỳ thiệt hại gì cho tôi: Làm sao tôi có thể xúc phạm đến Vua và Đấng Cứu Chuộc của tôi?” Có bao giờ bạn cảm thấy hổ thẹn với chính mình khi có thái độ thờ ơ tính toán nhỏ nhen với một Thiên Chúa không 

Đứng đã không bao giờ gây ra bất kỳ thiệt hại gì cho bạn mà còn luôn trao ban cho bạn ân sủng dồi dào? 

LẮNG NGHE: Phúc thay người đặt niềm tin cậy vào Chúa (Tv 39, 5c). Người ấy tựa cây trồng bên dòng nước, cứ đúng mùa là hoa quả trổ sinh, cành lá chẳng khi nào tàn tạ. Người như thế làm chi cũng sẽ thành. (Tv 1:3)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, con tin thật Chúa là Đấng cứu độ con! Xin giúp con kết hợp với Chúa luôn mãi để được trổ sinh hoa trái như Chúa hằng mong ước.

THỰC HÀNH: Hãy sống đạo một cách tích cực và mạnh mẽ hơn. 

From: Do Dzung

**************************

Con Tin Chúa Ơi – Sáng Tác: Lm. Duy Thiên – Trình Bày: Gia Ân

Viên đạn xuyên qua cơ thể cô và cô ngã xuống biển-Truyen ngan

My Lan Pham

Viên đạn xuyên qua cơ thể cô và cô ngã xuống biển, nhưng cô không chết, bởi vì nếu chết đi thì sẽ chẳng còn ai biết điều gì đã xảy ra với 21 người phụ nữ bị sát hại bên cạnh mình.

Ngày 16 tháng 2 năm 1942. Bangka Island, South China Sea.

Hai mươi hai nữ y tá thuộc Australian Army đứng trong làn nước ngang thắt lưng, xếp thành hàng, khi những người lính Nhật đặt một khẩu súng máy trên bãi cát phía sau họ.

Không ai cần phải giải thích điều gì sắp xảy ra.

Rồi loạt đạn bắt đầu.

Sức mạnh của viên đạn hất Vivian Bullwinkel chúi người về phía trước xuống làn nước. Nó xuyên vào cơ thể cô ngay phía trên hông và thoát ra ở phía bên kia. Xung quanh cô, những người phụ nữ từng cùng đào tạo, cùng cười, cùng chăm sóc bệnh nhân đã gục xuống chỉ trong vài giây.

Nước biển chuyển sang màu đỏ.

Những thi thể đổ xuống. Nổi lên. Biến mất dưới làn sóng nhẹ.

Tiếng súng vẫn tiếp tục ,có chủ ý, có hệ thống ,đủ lâu để chắc chắn rằng tất cả đã chết.

Vivian không cử động.

Cô để cơ thể hoàn toàn bất động, mặt úp xuống nước, máu chảy ra từ vết thương. Cô thở rất khẽ. Mọi bản năng đều gào thét bảo cô phải chạy, phải chiến đấu, phải sống.

Nhưng cô nằm yên tuyệt đối.

Cô nghe thấy tiếng giày giẫm trên cát. Tiếng nói. Tiếng cười. Thủy triều nhẹ nhàng đẩy cơ thể cô vào bờ, như thể muốn đưa cô đến nơi an toàn ,hoặc đến chỗ những kẻ hành quyết.

Cuối cùng, những âm thanh ấy biến mất.

Khi cô ngẩng đầu lên, bãi biển im lặng.

Hai mươi mốt nữ y tá nằm chết trong làn nước cạn và trên bãi cát.

Vivian là người duy nhất còn sống.

Chỉ vài ngày trước đó, họ đang sơ tán khỏi Singapore khi quân Nhật tiến sát. Vivian và các y tá cùng đi trên một con tàu chở đầy thương binh, dân thường hoảng loạn, những người mẹ ôm chặt con.

Khi máy bay Nhật tấn công, bom xé toạc thân tàu. Xuồng cứu sinh lật úp. Mọi người nhảy xuống làn nước đang bốc cháy. Các y tá làm việc đến phút cuối ,đưa người bị thương lên trước, trấn an những người hoảng sợ, giữ trật tự khi con tàu chìm xuống.

Sống sót sau vụ đắm tàu lẽ ra phải đồng nghĩa với việc thoát thân.

Nhưng thay vào đó, nó đưa họ đến chỗ hành quyết.

Những người sống sót trôi dạt vào bờ tại Bangka — kiệt sức, bị thương, tuyệt vọng tìm nơi an toàn. Ngày 16 tháng 2, quân Nhật đến. Đàn ông bị tách ra và bị dẫn vào đất liền tới cái chết của họ. Các y tá bị ra lệnh bước xuống nước.

Sau vụ thảm sát, Vivian đang chảy máu, choáng váng ,lết mình từ biển vào khu rừng rậm. Cô bị thương, cô đơn, mắc kẹt sau phòng tuyến kẻ thù trong vùng do chính đội quân vừa giết bạn bè cô kiểm soát.

Vài giờ sau, cô tìm thấy một người sống sót khác: Ernest Lloyd Kingsley, một binh sĩ Anh. Anh đã bị bắn trong cuộc hành quyết các tù nhân nam và bị bỏ mặc chờ chết.

Trong mười hai ngày, họ ẩn mình dưới tán rừng.

Và Vivian làm điều cô luôn làm. Cô chăm sóc.

Không có dụng cụ. Không thuốc men. Không băng gạc. Cô rửa vết thương cho anh chỉ bằng nước và ý chí. Họ tìm kiếm thức ăn. Hứng nước mưa để uống. Nhiễm trùng lan rộng trong vết thương của Kingsley. Anh yếu dần từng ngày.

Vivian vẫn ở bên anh.

Ngày thứ mười hai, anh chết trong vòng tay cô.

Bị thương, đói khát, sốt cao và hoàn toàn cô độc, Vivian Bullwinkel đưa ra một lựa chọn mà ít con người nào có thể tưởng tượng:

Cô bước ra khỏi rừng và đầu hàng chính đội quân đã giết bạn bè mình.

Cô không nói gì về vụ thảm sát.

Cô hiểu rõ cái giá của sự thật. Nói ra đồng nghĩa với cái chết ngay lập tức. Người Nhật tin rằng cô chỉ là một y tá lạc khỏi đoàn sau vụ đắm tàu. Họ đưa cô đến một trại tù binh ở Sumatra.

Trong ba năm rưỡi, cô chịu đựng cảnh giam cầm được thiết kế để nghiền nát tinh thần con người.

Cái đói không bao giờ chấm dứt. Bệnh tật lan khắp trại như cháy rừng. Đòn roi là chuyện thường ngày. Cái chết hiện diện khắp nơi. Mỗi ngày đều có phụ nữ chết quanh cô.

Và Vivian vẫn tiếp tục chăm sóc.

Âm thầm. Bí mật. Luôn đối mặt với nguy hiểm.

Cô chế băng từ những mảnh vải vụn. Chia sẻ khẩu phần ít ỏi của mình cho những người yếu hơn. Ngồi bên cạnh người hấp hối để họ không phải ra đi một mình. Cứu những mạng sống lẽ ra đã kết thúc.

Trong suốt thời gian đó, cô mang theo ký ức về Bangka ,ký ức đã giữ cô sống và sự im lặng đe dọa chôn vùi sự thật.

Tháng 9 năm 1945, tự do đến.

Khi lực lượng Đồng minh tới nơi, Vivian chỉ còn nặng chưa tới 40 kg. Cơ thể cô kiệt quệ. Ký ức còn nặng nề hơn.

Chỉ khi ấy cô mới lên tiếng.

Vivian Bullwinkel trở thành nhân chứng duy nhất của vụ thảm sát tại Bangka. Lời khai của cô có ý nghĩa sống còn trong các phiên tòa xét xử tội phạm chiến tranh sau chiến tranh. Cô kể lại, không né tránh, việc hành quyết những nhân viên y tế không vũ trang. Cô nhận diện những kẻ chịu trách nhiệm. Cô đảm bảo thế giới biết điều gì đã xảy ra.

Những lời của cô khiến tội ác ấy được ghi lại, bị xét xử và không bao giờ bị xóa khỏi lịch sử.

Một số sĩ quan Nhật bị kết án và xử tử vì tội ác chiến tranh liên quan đến vụ thảm sát.

Công lý đến muộn, chưa trọn vẹn, nhưng là có thật.

Vivian trở về nhà. Trở lại với nghề y tá. Trở thành quản lý bệnh viện. Hướng dẫn thế hệ y tá trẻ bằng sự kiên nhẫn và trí tuệ. Chăm sóc các cựu binh mang trong mình những vết thương vô hình.

Khi nói công khai về Bangka, cô không mang theo sự giận dữ ,chỉ có sự thật. Cô bảo đảm rằng hai mươi mốt người phụ nữ đã chết trong làn nước ấy không bao giờ bị lãng quên.

Cô chọn phục vụ thay vì cay đắng.

Chọn ký ức thay vì im lặng.

Vivian Bullwinkel qua đời năm 2000, ở tuổi 84, sau gần sáu mươi năm dành để tưởng nhớ những người phụ nữ không sống sót bằng cách kể câu chuyện của họ và tiếp tục công việc mà tất cả họ đã cùng chọn.

Hai mươi hai nữ y tá bị lùa xuống biển.

Hai mươi mốt người bị giết.

Một người sống để làm chứng.

Vivian không chỉ sống sót sau một vụ thảm sát.

Cô nhớ, khi im lặng sẽ dễ dàng hơn.

Cô lên tiếng, khi nói ra có thể hủy hoại chính mình.

Cô phục vụ, khi cay đắng là điều hoàn toàn có thể.

Và bằng cách đó, cô không để sự tàn bạo có lời cuối cùng.

Những người phụ nữ của Bangka đã bị sát hại.

Nhưng nhờ Vivian Bullwinkel, họ không bao giờ bị lãng quên.

Và những kẻ giết họ đã phải đối mặt với công lý.

Hãy nhớ tên cô. Hãy nhớ câu chuyện của họ.

Theo Stories they erased

My Lan Phạm

No photo description available.


 

ĐẤNG THẤU SUỐT-Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Người cũng thấy một bà goá túng thiếu kia bỏ vào đó hai đồng tiền kẽm”.

“Xét cho cùng, Kitô hữu thật kỳ quặc! Họ dâng một tình yêu cao cả cho Đấng chưa từng gặp; thân thưa hằng ngày với Đấng chưa từng thấy. Họ mạnh mẽ khi yếu đuối, giàu có khi nghèo khó. Họ chết để sống; bỏ mọi sự để được mọi sự. Họ nhận thức rằng, Đấng thấu suốt đó thấy sâu hơn những gì con người thấy!” – Aiden Tozer.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay xác thực nhận định của Tozer! Thiên Chúa – ‘Đấng thấu suốt’ – thấy sự hào hiệp của Đaniel và các bạn tù; Chúa Giêsu thấy sự quả cảm của bà goá nghèo.

Giám thị của vua không nhận ra sự quan phòng của ‘Đấng thấu suốt’ dành cho các tôi tớ Ngài. Bốn thanh niên Israel xin miễn dùng thức ăn vua ban; và sau mười ngày được ăn rau quả và uống nước trong, các cậu trở nên khôi ngô hơn hẳn, và quan thấy họ cũng thông thái vượt xa các thuật sĩ – bài đọc một. Từ đó, các bạn trẻ có thể “dâng lời khen ngợi suy tôn muôn đời” lên Chúa của mình – Thánh Vịnh đáp ca.

Ngồi trước hòm tiền, Chúa Giêsu nhìn thấy trái tim của những người giàu rỉ ra ‘vài giọt quảng đại’ khi dâng cúng, nhưng hành động của họ thiếu tình yêu. Ngược lại, Ngài mục kích nơi một bà goá nghèo sự hy sinh trọn vẹn. Bà cho đi “cái để nuôi sống” vốn không chỉ là cơm bánh, nhưng còn là ‘máu’ – chính sự sống và khả năng duy trì sự sống. Bà phó thác và đầu phục vào ‘Đấng thấu suốt’, tin chắc Ngài sẽ chăm sóc mình. Vì thế, vừa thanh thản vừa tràn đầy hy vọng, bà vui tươi và chan chứa niềm tin vào sự quan phòng của Chúa. “Trong việc dâng trao, Chúa không chỉ nhìn bạn cho bao nhiêu, mà nhìn bạn còn lại bao nhiêu – Ngài không thấy bề ngoài, nhưng thấy tận thâm sâu món quà bạn dâng!” – Scott LaPierre.

“Ngày nay, một căn bệnh khủng khiếp đang chống lại lòng quảng đại khiến chúng ta không dám làm những điều kỳ diệu. Đó là “Chủ nghĩa tiêu dùng” – mua nhiều hơn mức mình cần. Đây là kẻ thù của lòng quảng đại. Vậy mà, “Cái tôi có thể cho đi để người nghèo có cái ăn, cái mặc” lại có một kết quả thầm kín: Nó mở rộng trái tim và giúp tôi trở nên rộng lượng như Thiên Chúa!” – Phanxicô.

Anh Chị em,

Trong hành động dâng cúng của bà goá, thời gian và không gian như dừng lại trước vĩnh cửu. Không còn “ít” hay “nhiều”, tham tính hay sợ hãi, chỉ còn sự trao hiến, đặt đời sống hữu hạn vào tay Đấng Vô Hạn – luôn tiếp nhận từng cử chỉ nhỏ bé, biến nó thành chứng tá bất diệt của tình yêu. Lời Chúa mời gọi chúng ta nhìn mọi hành vi trần thế qua lăng kính của ‘Đấng thấu suốt’: vật chất trở nên dấu chỉ ân sủng, yếu đuối biến nên sức mạnh, và lòng tín thác bình thường trở thành hương lễ bất tử. Nhờ đó, đời sống không chỉ là hiện tại, mà đã hoà nhịp với lòng thương xót của Thiên Chúa. “Chúa không nhìn hành động của chúng ta lớn hay khó khăn thế nào, nhưng nhìn chính tình yêu mà chúng ta thực hiện chúng!” – Têrêxa Lisieux.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, dạy cho con trông rộng nhìn xa, nhìn vào ‘chiều kích vĩnh cửu’, nhìn vào ‘tầm cao’ để con dám cho đi nhiều hơn!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

****************************************************

Lời Chúa Thứ Hai Tuần XXXIV Thường Niên, Năm Lẻ

Phúc Âm: Lc 21, 1-4

“Người thấy một bà goá nghèo khó bỏ vào đó hai đồng tiền nhỏ”.

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.

Khi ấy, Chúa Giêsu nhìn lên, thấy những người giàu có bỏ tiền dâng cúng vào hòm tiền. Người cũng thấy một bà goá nghèo khó bỏ vào đó hai đồng tiền nhỏ, nên bảo rằng: “Thầy bảo thật các con, bà goá nghèo khó này đã bỏ vào hòm tiền nhiều hơn mọi người. Vì mọi người kia lấy của dư thừa mà dâng cho Thiên Chúa, còn bà này túng thiếu, bà đã dâng tất cả những gì bà có để nuôi sống mình”.


 

“Ai muốn theo tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo. (Lc 9:23)- Cha Vương

Chúc bạn và gia quyến ngày Chúa Nhật tràn đầy nhiệt huyết để sống đúng với tinh thần của Mùa Chay thánh. Hãy nhớ nhau trong lời cầu nguyện nhé.

Cha Vương

CN: 15/02/2026. (t5-24)

TIN MỪNG: Đức Giê-su nói với mọi người: “Ai muốn theo tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo. (Lc 9:23)

SUY NIỆM: Mùa Chay là thời gian để xem xét coi điều gì khiến bạn xao lãng lời kêu gọi vác thập giá mỗi ngày và theo Chúa Giêsu. Nó nhắc nhở bạn rằng con đường của Chúa Giêsu là con đường đau khổ, con đường thập giá, chấp nhận cái chết và bị thế gian chối bỏ. Nhưng ở cuối cuộc hành trình là sự phục sinh. Hàng ngày bạn đang phải đối diện với một quyết định sinh tử. Con đường dẫn đến cái chết hay là con đường chết đi chính mình để được sống vĩnh cửu với Chúa? Bạn chọn đường nào? Jean Tauler OP, một nhà thần bí của thế kỷ 14 đã nói trong các bài giảng của mình: “Vì vậy, nếu bạn ra khỏi mình trọn vẹn, Thiên Chúa sẽ bước vào trọn vẹn; bạn ra khỏi mình bao nhiêu, Ngài bước vào bấy nhiêu, không hơn không kém.” Muốn có được Thiên Chúa, trước hết bạn phải mất tất cả, vì con đường của tâm hồn là con đường hạ xuống thấp. Tự cởi bỏ chính mình để giữ lại trang phục sống lại.

LẮNG NGHE: Khi tôi kêu khấn CHÚA Trời, / Người đã nghe tiếng tôi, cứu tôi khỏi bọn người xông đánh. Hãy trút nhẹ gánh lo vào tay CHÚA, / Người sẽ đỡ đần cho, chẳng để chính nhân phải nghiêng ngửa bao giờ. (Tv 55:17-20, 23)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, xin giúp con đặt hết niềm tin tưởng vào Chúa khi gặp khó khăn đau khổ trong cuộc sống vì con biết  rằng Chúa không bao giờ để con một mình trong cơn nguy hiểm. Có Chúa con sẽ không sợ hãi gì!

THỰC HÀNH: Mời bạn hãy trọn vẹn với Chúa bằng cách loại bỏ những thói hư tật xấu đang âm thầm huỷ hại mối quan hệ giữa mình với Chúa và những người chung quanh.

From: Do Dzung

*************************

THÁNH GIÁ NÀO CHO CON. Ca sĩ: Ngọc Lan

4 SỰ THẬT TÀN KHỐC VỀ CÁI TẾT NĂM NAY …- Anmai CSsR

Anmai CSsR

Nếu không có gì bất ngờ, cái Tết này sẽ là một cú tát thẳng vào mặt những ai còn đang mơ mộng về một mùa xuân ấm áp, sum vầy. Không phải vì thời tiết khắc nghiệt hay dịch bệnh hoành hành, mà bởi vì thực tế phũ phàng của cuộc sống đã lột trần hết thảy những ảo mộng. Tết, vốn dĩ là dịp để con người ta dừng lại, thở phào và tận hưởng, nay đã biến thành một gánh nặng khổng lồ, một cuộc chiến âm thầm với ví tiền và lòng tự trọng. Dưới đây là 4 hiện tượng trần trụi mà ai cũng thấy, nhưng ít ai dám nói ra toẹt móng heo. Bởi lẽ, thừa nhận chúng đồng nghĩa với việc nhìn thẳng vào gương mặt méo mó của chính mình trong xã hội này – một xã hội mà tiền bạc không chỉ là phương tiện, mà còn là thước đo của hạnh phúc, của tình thân, và thậm chí của cả sự tồn tại.

Thứ nhất, dòng người về quê không còn mang theo nụ cười, mà là sự tháo chạy khỏi cơn ác mộng đô thị. Hãy nhìn kỹ những hình ảnh trên đường cao tốc những ngày giáp Tết: những chiếc xe máy chất đầy đồ đạc lỉnh kỉnh, từ vali cũ kỹ đến thùng carton buộc dây chằng chịt, rời khỏi thành phố từ đầu tháng Chạp. Đừng vội nghĩ đó là vì họ “xong việc sớm” hay háo hức về với quê hương. Không, đó là hình ảnh của sự thất bại, của những đợt cắt giảm nhân sự ồ ạt mà các công ty lớn nhỏ đang âm thầm thực hiện dưới vỏ bọc “tái cấu trúc”. Anh công nhân xóm trọ tôi vừa trả phòng hôm qua, mắt đỏ hoe bảo: “Về sớm đỡ tiền trọ em ạ, chứ ở lại lấy gì bỏ vào mồm?”. Câu nói ấy không chỉ là lời than vãn cá nhân, mà là tiếng kêu thét của hàng triệu lao động phổ thông đang bị đẩy ra rìa xã hội. Họ về quê không phải để ăn Tết, mà để trốn tránh cái đói, cái nợ nần chồng chất ở chốn phồn hoa giả tạo.

Ngược lại, nhiều dân văn phòng – những kẻ được cho là “thành đạt” – lại bám trụ lại thành phố, không phải vì yêu thích ánh đèn neon hay nhịp sống hối hả, mà vì về quê bây giờ là một gánh nặng tài chính khổng lồ. Vé xe khách tăng giá gấp đôi, quà cáp cho họ hàng phải “xứng tầm” để giữ thể diện, tiền mừng tuổi cho con cháu phải “đủ đô” để tránh bị chê bai. Thôi thì đành mang tiếng “bận việc” hoặc “dịch bệnh chưa yên”, ở lại một mình trong căn phòng trọ ẩm mốc, ăn mì gói qua ngày. Thâm thúy thay, cái Tết này đã biến dòng người di cư thành một cuộc chạy đua với nghèo đói: kẻ chạy về để sống sót, kẻ ở lại để che đậy sự kiệt quệ. Và giữa dòng chảy ấy, không ai cười nổi, vì nụ cười đã bị thay thế bằng những cái thở dài nặng trĩu.

Thứ hai, Tết bây giờ là “nghĩa vụ” chứ không phải lễ hội, một gánh nặng đè lên vai người lớn như tảng đá Sisyphus. Ngày xưa, trẻ con đếm từng ngày chờ Tết để được ăn ngon, mặc đẹp, nhận phong bao đỏ. Người lớn thì mong Tết để sum họp, nghỉ ngơi sau một năm vất vả. Nhưng giờ đây, Tết đã biến chất thành một “deadline” kinh hoàng, một kỳ thi cuối năm mà ai cũng biết mình sẽ trượt. Tiền đâu để lì xì cho con cháu? Tiền đâu để trả nợ ngân hàng, trả tiền nhà, trả đủ thứ hóa đơn tích tụ? Những câu hỏi ấy ám ảnh từng giấc ngủ, biến mấy ngày nghỉ Tết thành khoảng thời gian lo âu triền miên. Thay vì sum vầy bên mâm cỗ, người ta nằm dài trên giường, bấm điện thoại lướt TikTok đến mụ mị đầu óc, chỉ để trốn tránh thực tại phũ phàng. Những video hài hước, những clip du lịch sang chảnh trên mạng xã hội trở thành liều thuốc phiện tạm thời, giúp quên đi cái ví đang mỏng dần và những cuộc gọi đòi nợ sắp tới.

Thâm thúy ở chỗ, cái Tết này không còn là dịp để tái tạo năng lượng, mà là khoảng lặng để lộ rõ sự kiệt sức của con người hiện đại. Không ai còn háo hức với pháo hoa hay múa lân; họ chỉ thấy mệt mỏi, chờ cho hết mấy ngày này để quay lại guồng quay kiếm tiền – một guồng quay mà chính nó đã biến Tết thành gánh nặng. Suy cho cùng, Tết không phải là lễ hội nữa, mà là một nghi thức xã hội bắt buộc, nơi con người ta phải diễn vai “hạnh phúc” để che đậy nỗi sợ hãi sâu thẳm: sợ nghèo, sợ cô đơn, sợ bị xã hội phán xét. Và trong vở kịch ấy, không ai là người thắng cuộc, chỉ có những kẻ thua cuộc mệt mỏi.

Thứ ba, những cuộc gặp gỡ xã giao sặc mùi “diễn”, nơi tình thân bị thay thế bởi sự tọc mạch và ghen tị. Đến nhà nhau chúc Tết, ngày xưa là dịp để hỏi han sức khỏe, chia sẻ niềm vui. Giờ đây, câu cửa miệng không còn là “Chúc năm mới mạnh khỏe”, mà là màn tra khảo không khoan nhượng: “Lương tháng bao nhiêu?”, “Thưởng Tết nhiều không?”, “Sao chưa mua nhà/xe?”, “Con cái học hành thế nào?”. Người hỏi thì tọc mạch dưới vỏ bọc “quan tâm”, người trả lời thì gượng gạo, cố gắng tô vẽ một bức tranh đẹp đẽ để che đậy thực tế xám xịt. Kết cục là gì? Cả đám lôi điện thoại ra, mạnh ai nấy lướt, ngồi chung một mâm cơm mà hồn ai nấy giữ. Tiếng cười vang lên không phải từ niềm vui thực sự, mà từ sự miễn cưỡng, như những diễn viên nghiệp dư trong một vở kịch tồi.

Thâm thúy thay, cái Tết này đã phơi bày sự mỏng manh của tình thân trong xã hội vật chất. Tình thân bây giờ mỏng như tờ polime trong ví: hết tiền là hết tình. Những cuộc gặp gỡ không còn là để gắn kết, mà là để so đo, để khẳng định vị thế. Ai giàu thì khoe khoang, ai nghèo thì né tránh; và giữa khoảng trống ấy, sự chân thành biến mất. Chúng ta ngồi bên nhau, nhưng thực ra đang cô lập chính mình trong thế giới ảo của mạng xã hội, nơi mọi thứ đều đẹp đẽ hơn thực tế. Tết, thay vì là cầu nối, nay trở thành lưỡi dao cắt đứt những mối liên hệ mong manh còn sót lại, để lại một nỗi trống rỗng mà không ai dám thừa nhận.

Thứ tư, hoa Tết ế ẩm vì cái bụng đang đói, nơi lãng mạn bị nghiền nát dưới bánh xe nghèo túng. Đừng trách người ta không có gu thẩm mỹ, không biết thưởng hoa hay yêu cái đẹp. Khi cơm áo gạo tiền đè nặng lên vai, thì một chậu mai vàng rực rỡ hay cành đào thắm hồng trở nên quá xa xỉ, quá vô nghĩa. Chợ hoa Tết năm nay, người ta đi ngắm thì nhiều, mua thì ít; những ánh mắt ái ngại của người bán và cái lắc đầu tiếc nuối của người mua là minh chứng rõ nhất cho sự chết chóc của lãng mạn. “Đẹp thật, nhưng để tiền mua gạo thôi”, một chị bán hàng rong thì thầm, và câu nói ấy vang vọng như một lời nguyền rủa lên toàn bộ không khí Tết. Hoa không ế vì xấu, mà ế vì xã hội đang đói – đói tiền, đói hy vọng, đói cả niềm tin vào tương lai.

Thâm thúy ở đây là sự tương phản giữa vẻ đẹp bề ngoài và thực tế bên trong: Tết khoe sắc với hoa đào mai nở, nhưng lòng người thì héo úa như lá úa dưới nắng gió. Sự nghèo túng không chỉ giết chết cái bụng, mà còn giết chết tâm hồn; nó biến con người ta thành những cỗ máy sống sót, nơi cảm xúc thẩm mỹ bị đẩy xuống hàng thứ yếu. Và trong cái vòng luẩn quẩn ấy, chúng ta nhận ra rằng, cái đẹp chỉ tồn tại khi nhu cầu cơ bản được đáp ứng – một chân lý mà triết gia Maslow đã nói từ lâu, nhưng nay mới thực sự thấm thía trong bối cảnh Tết Việt.

Suy cho cùng, Tết không buồn, chỉ có lòng người đang héo hon vì tiền bạc eo hẹp. Khi cái bụng chưa no, đừng mong người ta cười nói vui vẻ; khi ví tiền mỏng, đừng hy vọng tình thân dày dặn. Cái Tết này là gương soi chiếu rõ nhất cho xã hội: một xã hội mà thành công được đo bằng con số ngân hàng, và hạnh phúc chỉ là ảo ảnh cho những kẻ may mắn. Muốn Tết vui? Hãy cày cuốc ngay từ bây giờ đi, đừng đợi phép màu từ ông trời hay từ chính phủ. Bởi lẽ, trong thế giới này, phép màu duy nhất là mồ hôi và nước mắt của chính bạn. Và nếu không, cái Tết năm sau sẽ còn tàn khốc hơn, như một vòng lặp vô tận của sự thất vọng.

Lm. Anmai, CSsR

No photo description available.


 

CÁ: MÓN HÀNG XA XỈ Ở ĐẢO QUỐC CUBA!-Phó Đức An

Phó Đức An

Cuba sở hữu hơn 2.000 km đường bờ biển, dòng hải lưu ấm áp và những rạn san hô trù phú. Tôm hùm, cá, tôm và cua tung tăng bơi lội trong làn nước xanh biếc của biển Caribbean, tạo nên một khung cảnh như một nhà hàng nổi trên biển với vô số món hải sản ngon.

Tuy nhiên, cá lại là món ăn hiếm hoi trên bàn ăn của người dân Cuba. Đó là một tình huống kỳ lạ: Một quốc gia được bao quanh bởi biển, nhưng người dân lại không có cá mà ăn.

Ở Cuba, hoạt động đánh bắt cá tư nhân luôn là một điều khó khăn, bởi luôn bị giám sát chặt chẽ về mặt chính trị. Muốn có thuyền? Rất tiếc, thủ tục phê duyệt có thể khiến bạn phải chờ đợi vô thời hạn cho đến khi về hưu. Muốn lắp động cơ? Rất tiếc, điều đó tương đương với việc cấp cho bạn “giấy phép vượt biên”.

Lý do rất đơn giản, thậm chí thô bạo: Họ sợ bạn sẽ bỏ trốn! Cuba cách Hoa Kỳ bao xa? Ở điểm gần nhất, khoảng cách đường chim bay chưa đến 150 km. Với thời tiết tốt và đủ can đảm, một chiếc thuyền máy có thể đến được Florida chỉ trong vài giờ. Do đó, trong bối cảnh chính trị Cuba, tàu đánh cá tư nhân chưa bao giờ là “công cụ sản xuất”, mà là “công cụ đào tẩu”.

Tàu tư nhân? Nguy hiểm! Động cơ? Còn nguy hiểm hơn. Nhiên liệu? Đó là “nguồn tài nguyên chiến lược”. Ra khơi đánh cá? Trước tiên, hãy chắc chắn một câu hỏi: bạn đi đánh cá hay bạn định vượt biên sang Hoa Kỳ? Vì vậy, việc quản lý nghề cá của Cuba chưa bao giờ xoay quanh “làm thế nào để đánh bắt được nhiều cá hơn”, mà là “làm thế nào để quản lý những người ra khơi”. Nó giống như một người chăn cừu chỉ nhìn vào chân cừu, chứ không nhìn vào đồng cỏ. Cỏ có xanh tươi đến đâu, cừu có đói đến đâu – điều đó không quan trọng; điều quan trọng là – cừu không thể bỏ trốn.

Nguồn tài nguyên thủy sản do nhà nước độc quyền, và hoạt động đánh bắt cá do các công ty thủy sản nhà nước kiểm soát. Hải sản có giá trị cao được ưu tiên xuất khẩu để thu ngoại tệ hoặc cung cấp trực tiếp cho các khách sạn ở khu du lịch và khách nước ngoài. Người dân bình thường, kể cả những người sống gần biển, không có quyền tự do đánh bắt hoặc buôn bán hải sản; việc đánh bắt và buôn bán tôm hùm bất hợp pháp có thể bị xếp vào loại “tội phạm kinh tế”.

Điều này tạo ra một cảnh tượng hoàn toàn phi lý: Biển ở đó, cá ở đó, và con người ở đó, nhưng họ bị ngăn cách bởi một rào cản thể chế vô hình. Không phải người dân bình thường không muốn làm việc, nhưng công việc được coi là một “rủi ro”, “ngăn chặn sự bỏ trốn” được ưu tiên hơn mọi thứ khác, và “có đủ ăn” trở nên thứ yếu.

Tình thế khó xử thứ hai của ngành đánh bắt cá Cuba bắt nguồn từ những vấn đề cũ của nền kinh tế kế hoạch. Trong một hệ thống tập trung cao độ, “ai ăn cá” không bao giờ được quyết định bởi “ai đánh bắt cá”, mà bởi “ai quan trọng”. Do đó, bạn thấy tôm hùm, tôm và cá ngừ nhanh chóng được quốc hữu hóa; việc đông lạnh, chế biến và xuất khẩu đều được xử lý theo một quy trình tinh gọn; dòng ngoại hối được sử dụng cho “nhu cầu chiến lược quốc gia”.

Còn người dân bình thường thì sao? Sổ phân phối của họ thỉnh thoảng có thể bao gồm một ít cá, nhưng thường thì họ phải dựa vào trí tưởng tượng để bổ sung lượng protein cần thiết. Nhiệm vụ chính là quốc gia phải tồn tại trước, sau đó mới đến cuộc sống cá nhân. Vấn đề là, logic này đã hoạt động ở Cuba trong nhiều thập kỷ; Quốc gia vẫn đang trong giai đoạn “ưu tiên sinh tồn”, trong khi người dân vẫn ở thế “hãy cứ chờ đợi “.

Cá đã được đánh bắt, nhưng chúng không thuộc về ngư dân; biển cả rộng mở, nhưng không dành cho người dân. Do đó, người dân Cuba sở hữu một “tài sản tinh thần” đặc biệt – họ có thể nhìn thấy tài nguyên, nhưng không thể tiếp cận chúng.

Một số người có thể hỏi: Ngay cả với nhiều hạn chế như vậy, liệu nhà nước có nên chia sẻ một phần cá với người dân không? Về lý thuyết thì có, nhưng trên thực tế, điều đó rất khó. Lý do không khó hiểu: Cơ sở hạ tầng lạc hậu đến mức đáng báo động. Các cuộc phong tỏa kéo dài, tình trạng thiếu ngoại tệ kinh niên và sự kém hiệu quả dai dẳng của hệ thống đã khiến thiết bị đánh bắt cá của Cuba vẫn ở mức độ của thế kỷ 20.

Nhiên liệu khan hiếm; tàu thuyền có thể ra khơi, nhưng chưa chắc quay trở lại được. Phụ tùng thay thế khó tìm, và một khi hỏng, chúng sẽ bị “loại bỏ vĩnh viễn”. Chuỗi cung ứng đông lạnh hầu như không tồn tại; một khi cá đã được đưa lên bờ, số phận của chúng đã được định đoạt. Hệ thống vận tải nội địa còn yếu, khiến cá đánh bắt dọc bờ biển khó đến được các bếp ăn ở thành phố.

Kết quả là cá không phải là không bắt được, mà đúng hơn là “cá chết giữa chừng” do hệ thống. Trong điều kiện này, ngay cả khi chính phủ thực sự muốn “cho người dân ăn cá”, họ cũng thiếu khả năng đảm bảo cá đến được bàn ăn một cách suôn sẻ.

Tất nhiên, điều này đưa chúng ta đến một chủ đề cũ – lệnh trừng phạt của Mỹ. Nhưng cần phải làm rõ rằng không có lệnh cấm vận nào của Mỹ cấm người Cuba đánh bắt cá ngay trước cửa nhà mình. Các lệnh trừng phạt chủ yếu nhắm vào thương mại, tài chính, năng lượng và dòng chảy hàng hóa thiết yếu. Tác động gián tiếp của chúng bao gồm: Nhiên liệu trở nên khó kiếm hơn; ngư cụ trở nên đắt đỏ hơn; thiết bị chuỗi cung ứng đông lạnh trở nên khan hiếm hơn; và chi phí bảo trì tăng lên.

Nhưng câu hỏi “liệu bạn có thể ra khơi đánh bắt cá hay không” không bao giờ nằm trong danh sách trừng phạt. Điều thực sự ngăn cản người dân Cuba bình thường đánh bắt cá tự do là nỗi sợ hãi vốn có trong luật pháp và chính trị của chính họ.

Như vậy, chúng ta thấy một bức tranh xã hội đầy nghịch lý: Đất nước sở hữu vùng biển giàu có, người dân vô cùng cần protein, thế nhưng ngành công nghiệp đánh bắt cá lại bị quản lý như một “mối nguy hiểm về an toàn”, khiến người dân bình thường không có cá để ăn cũng không có nơi để lên tiếng về những lo ngại của mình. Bạn không thể đánh bắt cá, không thể bán cá, không thể chất vấn chính sách, không thể tự do ra khơi. Biển vẫn ở đó, nó sẽ không thay đổi. Cá vẫn ở đó, chúng có thể sinh sản. Điều đáng lo ngại là người dân sẽ bỏ chạy. Kết quả là: cá vẫn ở dưới biển, nhưng nạn đói lại ở ngay trên bờ.

Phó Đức An

From: Tu-Phung


 

Hà Nội: Hoa Tết ế ẩm hôm 28 Tết, người bán lỗ bạc tỷ

Ba’o Nguoi-Viet

February 15, 2026

HÀ NỘI, Việt Nam (NV) – Hôm 15 Tháng Hai (28 Tháng Chạp), những người bán hoa, cây kiểng Tết tại Hà Nội đồng loạt treo bảng “xả hàng” trước nguy cơ lỗ nặng.

Theo ghi nhận của phóng viên báo Tuổi Trẻ, việc giảm giá tận đáy diễn ra với các loại hoa đào, mai, tắc (quất), thậm chí một cặp chậu mai nhỏ ở khu vực chợ hoa Tết Mỹ Đình chỉ còn 100,000 đồng ($3.9) nhưng vẫn không có người mua.

Chậu mai hôm 15 Tháng Hai (28 Tháng Chạp) hạ giá chỉ còn 100,000 đồng ($3.9) một cặp. (Hình: Tuổi Trẻ)

Bà Đỗ Thị Oanh, quê Hưng Yên, không giấu được vẻ buồn bã khi đứng giữa dãy các chậu mai vàng chưa bán được dù chỉ còn một ngày là Tết Bính Ngọ 2026.

Bà Oanh nhập khoảng 2,000 cây mai vàng từ tỉnh Bến Tre, nay là Vĩnh Long, ra Hà Nội để bán nhưng đến hôm 15 Tháng Hai vẫn còn 600 cây chưa bán được.

Người phụ nữ cho biết, chi phí vận chuyển mai tốn 40 triệu đồng ($1,540), thuê hai kho chứa cây hết 30 triệu đồng ($1,155). Do hàng trăm cây mai bị ế, bà Oanh nhẩm tính rằng mình đã lỗ rất nặng.

“Giờ bán để thu lại được đồng nào hay đồng đó,” người phụ nữ nói.

Cùng cảnh ngộ, ông Lê Đình Chính, dân Hà Nội, cho biết năm nay ông nhập khoảng 300 cây đào thế cỡ to, nhưng đến 28 Tết vẫn còn 100 cây chưa bán được.

Số vốn đọng lại lên tới 1 tỉ đồng ($38,506), chưa kể chi phí vận chuyển.

Những người bán tắc (quất) kiểng cầm chắc lỗ nặng. (Hình: Tuổi Trẻ)

“Đào tôi nhập chủ yếu là loại đào thế cỡ lớn, nếu cho thuê thì khoảng 10 triệu đồng ($385) mỗi cây, còn bán thì 16 triệu đồng ($616). Nhưng đến sát Tết vẫn rất ế ẩm. Năm ngoái đào không nở kịp cũng ế. Năm nay nhuận, đào nở rộ cũng vẫn ế,” ông Chính thở dài nói.

Không còn hy vọng bán được hết lượng cây đào vào hôm 29 Tết, người đàn ông sau đó phải thuê xe cẩu để chở các chậu đào ế về vườn dưỡng lại cây cho mùa Tết năm sau.

Cùng thời điểm, tại những quầy bán tắc trên phố Trần Vỹ, các chậu nhỏ để bàn chỉ còn 120,000 đồng ($4.6) mỗi chậu nhưng khách chỉ ghé qua coi, trả giá rồi bỏ đi.

“Tôi chuẩn bị 1,200 cây, đến chiều 28 Tết vẫn còn 500 cây, đủ các loại lớn nhỏ. Giảm giá rất sâu rồi nhưng khách vẫn mặc cả, có người trả giá xong lại bỏ đi,” ông Phạm Quang Long, người bán tắc cho hay. (N.H.K) [kn]


 

THỞ DÀI – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Người thở dài não nuột mà nói, ‘Sao thế hệ này lại xin một dấu lạ?’”.

Một người làm việc 25 năm với cùng một vị trí, cùng một mức lương. Anh đến gặp ông chủ và than, “Tôi đã có một phần tư thế kỷ kinh nghiệm!”. Ông chủ thở dài, “Bạn thân mến, bạn chỉ có một kinh nghiệm lặp lại trong 25 năm!”.

Kính thưa Anh Chị em,

May be an illustration of text that says 'fine fineart art america ca'

Trong Tin Mừng hôm nay, xem ra giới biệt phái cũng chưa có một kinh nghiệm nào về Chúa Giêsu. Dẫu đã chứng kiến các phép lạ Ngài làm, họ vẫn đòi thêm. Ngài ‘thở dài’, và điều này bộc lộ một nỗi đau tâm linh sâu sắc bên trong!

Giống như bản dịch BJ. và NAB., cha Nguyễn Thế Thuấn dịch, “Tự tâm thần, Ngài rên lên”. Không phải một tiếng thở mệt; đó là tiếng của một tình yêu bị chặn cửa; một tiếng thở phát ra từ nơi sâu nhất của Đấng yêu mà không được đón nhận. “Đối diện với giới lãnh đạo đương thời, Chúa Giêsu thở dài. Tôi cảm nhận rằng Ngài đang kiệt sức vì thất vọng!” – David J. Collum.

Nhưng Chúa Giêsu không thất vọng vì thiếu quyền năng; Ngài thất vọng vì lòng người khép lại. Phép lạ không thiếu, cái thiếu là lòng tin; ánh sáng không tắt, cái tắt là trái tim. Dẫu thế, Ngài vẫn yêu thương họ, còn nước còn tát để mời gọi họ hoán cải. Hiếm khi chúng ta nghĩ rằng Chúa Giêsu yêu các biệt phái; chúng ta chỉ nhớ những lời quở trách. Không phải thế; mọi lời gay gắt của Ngài đều nhắm cứu họ. Mọi chất vấn đều là nỗ lực cuối cùng để lay động một tâm hồn đã quen đạo đến mức không còn rung động.

Vậy hôm nay, Chúa Giêsu có phải ‘thở dài’ vì chúng ta? Chúng ta không xin dấu lạ bằng miệng, nhưng xin bằng thái độ: vẫn nghe Lời Chúa mỗi ngày mà không đổi thay; vẫn tham dự Thánh Thể mà lòng nguội lạnh; vẫn cầu nguyện nhưng giữ lại một góc không cho Ngài chạm tới. Như lời Giacôbê, “Họ là kẻ hai lòng, hay thay đổi trong mọi việc họ làm!” – bài đọc một. Có thể chúng ta cũng chỉ có “một kinh nghiệm lặp lại” về Chúa suốt 10, 20, 30 năm. Một thói quen đạo đức được lặp lại, nhưng không có một cuộc hoán cải thật sự. Không phải thiếu thời gian theo Chúa; điều thiếu là một lần để Ngài thực sự chạm vào vết thương sâu nhất.

Anh Chị em,

Hãy nhìn Chúa Giêsu! Đấng đã từng ‘thở dài’ trước sự cứng lòng của con người, thì trên thập giá Ngài không còn ‘thở dài’ nữa. Không một tiếng trách móc, không một lời cay đắng; chỉ còn, “Lạy Cha, xin tha cho họ!”. Nếu có một hơi thở cuối cùng, thì đó là hơi thở trao ban. Ngài không rên vì bị từ chối; Ngài hiến mình vì yêu đến cùng. Chính nơi tưởng như thất bại ấy, tình yêu phá tung mọi cửa đóng kín. Và đó cũng là lời mời gọi mỗi người chúng ta: đừng khép lại khi bị hiểu lầm, đừng thở dài khi bị từ chối, đừng giữ lại khi bị tổn thương. Ở lại với Ngài, chúng ta học cách mở ra đúng lúc đau nhất; vì “Càng hiệp thông trọn vẹn với Chúa Giêsu, bạn càng trở thành con người mà Cha trên trời mong ước bạn trở thành!” – Rolland Baker.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin lay con khỏi sự quen lì; làm lặng con giữa những ồn ào; và phá tường lòng con để con lại biết run trước Ngài!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

***************************************************************

Lời Chúa Thứ Hai, Tuần VI Thường Niên, Năm Chẵn

Sao thế hệ này lại xin một dấu lạ.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mác-cô. Mc 8,11-13

11 Khi ấy, những người Pha-ri-sêu kéo ra và bắt đầu tranh luận với Đức Giê-su, họ đòi Người một dấu lạ từ trời để thử Người. 12 Người thở dài não nuột và nói : “Sao thế hệ này lại xin một dấu lạ ? Tôi bảo thật cho các ông biết : thế hệ này sẽ không được một dấu lạ nào cả.” 13 Rồi bỏ họ đó, Người lại xuống thuyền qua bờ bên kia.


 

 Con người sinh ra là để đi đến cái chết…

Những Câu Chuyện Thú VịChi Nguyen
 Con người sinh ra là để đi đến cái chết, sống thêm một ngày là cái chết đến gần hơn. Nó giống như ai cũng cầm cái án tử hình từ khi cất tiếng khóc..

Không có ngoại lệ, không thể lót tay tử thần để mình sống mãi. Chỉ khác ở chỗ là đến sớm hay muộn…!!!

Không ai biết được ngày mai không có tên mình trong danh sách ra đi?

Không ai dám chắc được tương lai mình sẽ thế nào?

Không ai biết được điều gì sẽ xảy ra với mình vào ngày mai?

Không ai biết ngày mai hay bắt trắc điều gì đến trước?

Cuộc đời này vốn mong manh chứ không dầy dặn như ta tưởng tượng

Cuộc đời này vốn vô thường chứ không phải bình thường như ta vẫn nghĩ

Cuộc đời này vốn rất ngắn chứ không dài như ta hình dung

Hãy học cách chấp nhận sự thật đó và bớt ảo tưởng

Thay vì đau buồn mất mát vì ai đó ra đi,

Thay vì khóc lóc vật vã vì không còn người thân yêu đó trên đời,

…thì hãy trao yêu thương khi họ còn sống.

Sống cho trọn nghĩa vẹn tình

Sống cho đáng sống làm người

Sống để mình không còn phải hối tiếc

Sống sao để khi tạm biệt người dương kẻ âm ta mỉm cười vì họ đã kết thúc mọi thứ rất tốt đẹp trong kiếp sống này và ta đã tròn vai..

Đừng tranh thua hơn thua thiệt kém

Đừng tranh giành đúng sai phải trái

Đừng dùng ngôn từ cay nghiệt miệt thị

Đừng hành động xấu hại đến ai

Đừng có suy nghĩ tiêu cực cho người

Bởi mọi thứ sẽ vô nghĩa khi một trong hai người ra đi.

Hãy tập buông bỏ mà không cần phải tìm lý do để tha thứ

Hãy tập biết ơn ngay cả khi không biết

Hãy tập thương mà không cần hiểu

Mỗi ngày một chút thôi, 365 ngày là 365 chút rồi, khi ấy bạn thấy mình đáng yêu đến lạ kì

Đến người dưng, kẻ lạ. Đến cả con chó con mèo bạn còn thương yêu thì sao phải giữ trong lòng những kí ức đau buồn với mẹ cha, vợ chồng, con cái, người thân…

Đặc biệt là vợ chồng, đừng buông tay vội nếu trong bạn còn có thể thương yêu họ.

Người ta có thể phụ mình nhưng mình tuyệt đối không phụ họ. Ta làm vậy không phải vì họ mà vì ta cần một đời bình an.

Hãy yêu thương mỗi ngày bạn nhé…!!

Bài và ảnh sưu tầm.

May be an image of one or more people


 

 ANH TRÍ  – Trần Bạch Thu- Truyen ngan HAY

Kimtrong LamLƯƠNG VĂN CAN K 76.

 Trần Bạch Thu –

10 tháng 2, 2026

Trời Cali sáng nay mưa dầm dề, tuy không lớn lắm nhưng rỉ rã có chút xíu nắng từng đợt rồi lại tắt, mưa tiếp, tôi đang trong nhà, lướt phây-bút, xem tin tức trên net đủ loại … và check email như thường lệ vào mỗi buổi sáng. Thế rồi tôi chậm lại ở hộp thư yahoo, tiêu đề tin buồn, tới tuổi nầy rồi chuyện tin buồn là điều bình thường quanh quẫn trong anh em bạn bè, không có gì hoang mang lắm, nhưng buổi sáng hôm nay khi nghe tin anh qua đời tôi lại bật mình muốn khóc thật sự.

Người ta thì học trò trong Quảng ra thi, còn anh thì cũng là xứ Quảng mà lại vô thi. Anh xuất thân từ trường Trung học Nguyễn Hoàng, Quảng Trị. Không biết anh có vướng chân cô gái Huế nào hay không, nhưng làm thơ anh thường lấy một trong các bút hiệu là Hoàng Dung, nghe đâu là tên người em gái của một chị bạn học cùng lớp ĐS17, người Huế họ Hoàng. Nói chung, anh em chỉ biết hể ai có tiếng nói trọ trẹ đều cho là dân Huế, nhưng chính anh đã giải thích cho tôi biết tiếng Quảng Trị có đôi chút khác, nặng hơn tiếng Huế, anh còn nêu ra một vài thí dụ nghe hơi tục mà vui hơn là đúng.

Anh làm Phó quận trưởng ở Quảng Tín năm 23 tuổi, trước khi về thi tuyển đậu vào lớp Đốc sự Khóa 17 năm 1969 cùng với anh em chúng tôi là sinh viên thuần túy. Học chung cùng lớp mà nghe nói anh đã tốt nghiệp khóa Tham sự 3 và từng làm Phó quận nên trong lòng cũng hãnh diện lắm. Đi học anh được bầu làm trưởng lớp, chuyên điểm danh anh em, nhưng nhẹ nhàng thôi, khi nào có người đến trễ anh thường đợi để điều chỉnh trước khi nộp cho phòng công tác sinh viên để họ không bị “mất điểm chuyên cần.”

Trong thời gian còn đi học ở trường năm thứ ba, anh lập liên danh ra tranh cử ban đại diện sinh viên toàn trường, nhưng thất cử, mặc dù anh đã chọn được người đứng thủ quỹ liên danh là hoa khôi của lớp ĐS19 (Đ Ng.) trong khi liên danh thắng cử có thủ quỹ cùng lớp ĐS17 mà anh đã không chọn hay chọn trễ nên thua. Bạn bè nói kháo với nhau như vậy, nhưng anh vẫn tự hào là cô thủ quỹ liên danh của minh dễ thương hơn.

Tuy là sinh viên công chức lớn hơn anh em sinh viên thuần túy chừng 4,5 tuổi nhưng anh sinh hoạt rất thân thiện vui vẻ, bình dị với mọi người. Dáng người mãnh khảnh, gương mặt thanh tú, tóc rẽ đường ngôi bảy ba, thẳng mướt rượt. Lúc nào cũng ăn mặc chỉnh tề, quần sậm màu, áo sơ mi trắng tươm tất “nhìn quân phục biết tư cách.”

Cuối khóa anh là người duy nhất chọn đề tài luận văn  “Người Nữ Công Chức trong Guồng Máy Hành Chánh.” Lẽ thường khi sinh viên chọn đề tài Luận văn tốt nghiệp thường hay xoay quanh các đề tài chính trị, kinh tế, tài chánh, giáo dục hoặc các đề tài có nguồn dữ liệu phong phú và dễ tìm. Đàng này với đề tài anh chọn, tài liệu rất hiếm và thực tế là rất dễ bị lạc đề.

Ra trường, anh về nhiệm sở cũ tỉnh Quảng Tín và được cử làm Phó Quận trưởng quận Thăng Bình và rồi từ đó trên bước đường công vụ chúng tôi ít có cơ hội gặp nhau. Chỉ biết anh vẫn còn sống độc thân vui tính với anh em. Nghe bạn bè cùng tỉnh nói lại anh về quận được mọi người khen ông Phó đẹp trai làm thơ rất hay, đặc biệt là thơ bằng chữ Hán, còn có đào hoa hay không thì chỉ có Trời biết.

Sau 30 tháng 4 năm 1975 anh bị bắt đi cải tạo ở địa phương miền Trung cho đến khi được thả về anh sống chui tại Sài Gòn, làm đủ mọi ngành nghề với anh em để sinh sống cho đến khi được đi Mỹ rất sớm theo diện HO.

Tôi qua Mỹ cũng diện HO sau anh chừng 2 năm. Gặp lại anh đang trú ngụ tại chùa Bát Nhã, thành phố Santa Ana, CA do một người bạn học giới thiệu với sư trụ trì, anh sinh hoạt tại chùa như một tu sĩ trường chay, ngũ trên chiếc giường sắt độc thân trong căn phòng trống trơn, mùa đông lạnh thấu xương. Lần đầu gặp anh tôi hơi ái ngại, sao lại ở chỗ nầy. Tôi hỏi:

– Anh thật sự tu chưa ?

– Chưa định, có thể chỉ ở tạm một thời gian.

Trong thời gian nầy, ngoài một vài công việc ở chùa do Thầy nhờ giúp, anh xem như là làm công quả, không có đọc kinh theo thời cũng như không có nghiên cứu giáo lý Phập pháp gì cả, mặc dù tôi biết anh là một phật tử thuần thành, thay vào đó anh làm thơ Đường đôi khi bằng chữ Hán và viết truyện. Tôi còn nhớ anh có viết bài “Cai Hạ Ca” (Bài ca Hạng Võ biệt Ngu Cơ) nghe buồn lắm. Thỉnh thoảng anh em có tới chùa rủ anh ra ngoài chơi, đi ăn vui vẻ với nhau. Ở chùa ăn chay, nhưng ra đường phố anh em cũng lại mời “Bồ Đề Tịnh Tâm Chay” như ở chùa. Thật rõ chán, không rượu chè, bia bọt gì được cả.

Được chừng vài năm, anh một thân một mình lại ra đi về miền đông, thành phố Boston, nghe nói là ở với người chị họ, đất Mỹ mênh mông biết nơi đâu nương tựa. Hôm anh đi chúng tôi có đêm chia tay cũng làm thành một bữa say sướt mướt, hành lý gọn nhẹ không có gì nhiều chỉ có ống “điếu cày” là báu vật mà anh luôn giữ bên mình chưa bao giờ rời.

Có một điều tôi hay thắc mắc, tự hỏi là anh làm thơ hoặc viết văn luôn ký bút hiệu toàn là nữ nghe như chuyện kiếm hiệp Kim Dung nào là Trương Thúy Hậu, Cao Kim Liên, Nguyễn Nga Bích … Riêng bút hiệu Hoàng Dung thì anh em còn hiểu lờ mờ đôi chút.

Thế rồi đùng một cái, cách nay hơn 10 năm trong một cuộc gọi điên thoại từ Boston anh cho tôi biết là anh đã bảo lãnh cho gia đình đứa con gái qua Mỹ đoàn tụ với anh. Thật ngạc nhiên tột độ. Chưa bao giờ tôi nghe anh nói về chuyện gia đình. Nay thì đã rõ, chuyện đời nhiều khi thấy vui vẻ là vậy mà bên trong lại vô cùng rối rắm không ai biết.

Đứa con gái của anh tên là Trương Thúy Hậu, anh có với người vợ chưa bao giờ cưới. Họ xa nhau từ ngày anh bị bắt đi cải tạo (sau ngày quận lỵ lọt vào tay cộng sản), hai mẹ con trở về quê cũ cũng ở Quảng Tín cải trang, sống âm thầm coi như anh đã chết. Năm năm sau anh về mới biết chị Cao Kim Liên đã có người cám cảnh, thương tình nên đã gá nghĩa vợ chồng với chị và nhận con anh như là con của nhà họ Trương. Từ đó anh lang bạt ra đi với niềm đau chôn kín tưởng chừng như hết cả cuộc đời nầy. Chỉ có vậy thôi.

Kể từ khi bảo lãnh cho con gái, con rể và các cháu sang Boston, cả gia đình cùng nhau mở một tiệm bán phở cũng tương đối đắt khách. Lần sau hết, tôi nghe tin anh bị đụng xe trong một trường hợp hi hữu, xe người lạ de xe từ trong garage ra đường, anh đi tới, trời mờ sáng tài xế không thấy, anh cũng không thấy, thế là anh bị xe đụng gãy chân hơi nặng nên sau khi lành anh phải chống gậy để đi. Mọi người đều nói, người già bị tai nạn té gãy xương híp thì về mặt tâm lý, tinh thần xuống dốc nhanh lắm.

Và nay thì anh đã ra đi, may mắn nhất đời là cuối cùng anh cũng đã quyết định đưa được một đứa con gái duy nhất sang Mỹ cùng với gia đình. Tuy muộn màng nhưng cha con cũng trùng phùng nhau trên đất khách. Nhìn di ảnh của anh trên bản cáo phó, tôi không thể không ngậm ngùi … Than ôi! Thời oanh liệt nay còn đâu?

Anh Trí ơi! Thôi đành từ đây ngàn thu vĩnh biệt, anh hãy yên nghỉ, cho dù tôi thật rất tiếc là chưa có dịp hỏi anh về chị Cao Kim Liên giờ ra sao, cũng như chị Nguyễn Bích Nga có còn ở Sài Gòn hay đã đi nơi nào? Nhưng thôi, có chi đâu tất cả cũng chỉ như là một cuộc rong chơi ở cõi đời nầy. Vậy thôi nhé. 

May be an image of pinecone, tree and nature


 

TỘI TẠI TÂM -Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết: ai giận anh em mình, thì đáng bị đưa ra toà!”.

“Ranh giới giữa thiện và ác không chạy qua quốc gia, giai cấp hay đảng phái – nhưng chạy qua từng trái tim mỗi người!” – Aleksandr Solzhenitsyn.

Kính thưa Anh Chị em,

May be art of text that says 'finear art america'

Ranh giới giữa thiện và ác không ở ngoài chúng ta, nhưng chạy qua tim mỗi người. Lời Chúa hôm nay rọi thẳng vào nơi ấy – trước khi lộ thành hành vi, mọi sa ngã đã nhen nhóm từ bên trong: ‘tội tại tâm!’.

Chúng ta thường sợ những tội lớn, những cú ngã ồn ào. Nhưng Chúa Giêsu không bắt đầu từ đó, Ngài chỉ vào cơn giận chưa kịp bộc phát, ánh mắt chưa kịp chạm tới, lời nói chưa kịp thốt ra. Không đợi hành vi, Ngài dừng ở động cơ; không đợi dao vung, Ngài đếm nhịp tim đang sôi sục; không đợi ngoại tình thành sự, Ngài chạm tới ánh nhìn đã lệch; không đợi lời thề gian vang ra, Ngài nghe thấy sự quanh co vừa hình thành. Ở đó, tội đã khởi sự – ‘tội tại tâm’. “Mọi tội lỗi của con người đều phát sinh từ trái tim!” – Augustinô.

Và đây mới là điều nhức nhối: chúng ta có thể sống cả đời mà vẫn nghĩ mình “ổn”. Không giết ai, nhưng nuôi một người trong lòng để ghét; không phản bội công khai, nhưng âm thầm phản bội bằng những tưởng tượng dung dưỡng; không nói dối trắng trợn, nhưng quen điều chỉnh sự thật cho vừa lợi ích. Vẫn đi lễ, vẫn cầu nguyện, vẫn giữ luật – và cùng lúc, giữ lại một góc tối không muốn Chúa bước vào. Lên án cái ác ngoài xã hội, nhưng chúng ta bao che cái sai trong lòng. Khi ấy, không chỉ phạm tội; chúng ta đánh mất sự thật về chính mình. Và sự tự lừa dối ấy mới là vực sâu thật sự.

Nếu ranh giới thiện ác chạy qua tim mỗi người, thì ơn cứu độ cũng đi qua trái tim ấy. Không đến để chỉnh sửa bề mặt, Chúa Giêsu đến chiếm lấy nội tâm; không chỉ để chúng ta làm điều đúng, nhưng để chúng ta yêu điều đúng; không chỉ để tránh tội, nhưng để trái tim không còn muốn tội. Vì nếu nguồn được thanh luyện, dòng chảy sẽ trong; nếu gốc được chữa lành, hoa trái sẽ tuyệt vời. “Điều tuôn ra từ bạn xuất phát từ những gì ở bên trong bạn!” – Richard Rohr.

Anh Chị em,

Hãy nhìn vào Chúa Giêsu. Tâm Ngài không chia đôi nhưng thuộc trọn về Cha; vì thế, không có khoảng tối cho thù hận. Mở trọn cho các linh hồn, nên tâm Ngài không giữ lại điều gì cho riêng mình. Bị xúc phạm, Ngài không nuôi giận; bị phản bội, Ngài không khép lại; bị đóng đinh, Ngài vẫn hướng về Cha và cầu cho người gõ búa. Nơi Ngài, bên trong và bên ngoài là một – không giả hình, không hai mặt, không bóng tối giấu kín. Đó là tự do của Con Một, và là con đường Ngài mở ra cho ơn cứu độ chúng ta. Cuộc chiến thật không ở ngoài đời; nó ở trong tim – ‘tội tại tâm’. Và chiến thắng không bắt đầu bằng việc sửa người khác, nhưng bằng việc để Chúa chạm tới nơi sâu nhất của mình. “Những gì ta đạt được bên trong sẽ biến đổi thực tại bên ngoài!” – Plutarch.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin soi thấu những chuyển động thầm kín của con; thanh luyện trái tim còn chia đôi của con; cho tâm con thuộc trọn về Cha và mở ra cho các linh hồn!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

****************************************** 

LỜI CHÚA CHÚA NHẬT TUẦN VI THƯỜNG NIÊN, NĂM A

Anh em đã nghe luật dạy người xưa. Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu    Mt 5, 20-22a.27-28.33-34a.37

20“Khi ấy, Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng: “Thầy bảo cho anh em biết, nếu anh em không ăn ở công chính hơn các kinh sư và người Pha-ri-sêu, thì sẽ chẳng được vào Nước Trời.

21“Anh em đã nghe Luật dạy người xưa rằng : Chớ giết người ; ai giết người, thì đáng bị đưa ra toà. 22Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết : Ai giận anh em mình, thì đáng bị đưa ra toà. 

27“Anh em đã nghe Luật dạy rằng : Chớ ngoại tình. 28Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết : ai nhìn người phụ nữ mà thèm muốn, thì trong lòng đã ngoại tình với người ấy rồi. 

33“Anh em còn nghe Luật dạy người xưa rằng : Chớ bội thề, nhưng hãy trọn lời thề với Đức Chúa. 34aCòn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết : đừng thề chi cả. 

37Nhưng hễ ‘có’ thì phải nói ‘có’, ‘không’ thì phải nói ‘không’. Thêm thắt điều gì là do ác quỷ.