Lagom – Wabi-sabi – Tri túc – Ba bài học cho Việt Nam đi tìm giới hạn của chính mình – Mai Thanh Truyết  

 Lagom – Wabi-sabi – Tri túc

Ba bài học cho Việt Nam đi tìm giới hạn của chính mình – Mai Thanh Truyết

 Nhân loại đang bước vào một giai đoạn phát triển chưa từng có trong lịch sử. Chỉ trong vòng hơn một thế kỷ, khoa học và kỹ thuật đã đưa con người từ chiếc xe ngựa đến phi thuyền không gian, chuyển thư từ, từ bằng con người, đến ngựa, và ngày nay, đến trí tuệ nhân tạo, từ nền kinh tế nông nghiệp đến nền kinh tế số toàn cầu.

Nhưng nghịch lý lớn nhất của thời đại chúng ta là càng tiến bộ về vật chất, con người dường như càng bất an về tinh thần. Ngày nay, thế giới sản xuất đủ lương thực để nuôi sống toàn thể dân số địa cầu, nhưng hàng trăm triệu người vẫn đói nghèo. Những thành phố hiện đại mọc lên khắp nơi, nhưng sự cô đơn và chứng trầm cảm ngày càng phổ biến. Công nghệ kết nối hàng tỷ người trong vài giây, nhưng lòng tin giữa con người với nhau lại suy giảm nghiêm trọng. Khủng hoảng môi trường, biến đổi khí hậu, ô nhiễm nguồn nước, suy giảm đa dạng sinh học và những bất ổn xã hội đang đặt ra một câu hỏi căn bản: “Liệu sự phát triển vật chất có đủ để bảo đảm hạnh phúc cho nhân loại hay không?”

Có lẽ đã đến lúc chúng ta cần nhìn lại những giá trị tinh thần đã từng giúp nhiều dân tộc sống hài hòa với thiên nhiên, với cộng đồng và với chính bản thân mình. Trong hành trình đó, ba triết lý sống đáng chú ý xuất hiện từ ba nền văn hóa khác nhau:

  • Lagom của Thụy Điển;
  • Wabi-sabi của Nhật Bản;
  • Tri túc của Phật giáo.

Mỗi triết lý mang một sắc thái riêng, nhưng tất cả đều hướng đến một mục tiêu chung, đó là giúp con người tìm lại sự quân bình giữa vật chất và tinh thần, giữa phát triển và đạo đức, giữa thành công và hạnh phúc.

1- Khủng hoảng của một nền văn minh tiêu thụ

Sau cuộc cách mạng công nghiệp, thế giới phương Tây đã xây dựng một mô hình phát triển dựa trên sản xuất và tiêu dùng liên tục. Một nền kinh tế muốn tăng trưởng phải bán được nhiều hàng hóa hơn. Nhưng, muốn bán được nhiều hàng hóa hơn phải kích thích nhu cầu. Và, muốn kích thích nhu cầu phải tạo ra cảm giác thiếu thốn. Từ đó, đưa đến kết quả là con người bị cuốn vào một cuộc chạy đua không có điểm dừng. Hôm nay, mua một chiếc xe mới, ngày mai đã có mẫu xe hiện đại hơn, tối tân hơn! Hôm nay, sở hữu một căn nhà lớn, ngày mai lại muốn mua căn nhà lớn hơn, rộng hơn nữa! Có địa vị hôm nay, ngày mai lại muốn một địa vị cao hơn! Cả xã hội vận hành trên giả định rằng hạnh phúc nằm ở phía trước và chỉ đạt được khi có thêm một điều gì đó.

Tuy nhiên, thực tế đã và đang chứng minh một điều ngược lại. Nhiều quốc gia giàu có đang phải đối diện với một sự thật không chối cải là tỷ lệ trầm cảm gia tăng trong dân chúng, tình trạng cô đơn xã hội xảy ra ở khắp nơi từ những quốc gia giàu đến tận những nơi cùng khổ, niềm tin cộng đồng ngày càng suy giảm, tình trạng ô nhiễm môi trường, khủng hoảng đạo đức ở các quốc gia tư bản lẫn cộng sản. Con người càng ngày càng có thêm nhiều phương tiện để phục vụ cho nhu cầu sống và sinh hoạt hàng ngày, nhưng lại thiếu lý do để sống, cũng như không có thì giờ để chiêm nghiệm lại … sự hiện hữu của chính mình!

Đó là cuộc khủng hoảng sâu xa nhất của nền văn minh hiện đại.

2- Lagom – Một nghệ thuật sống vừa đủ

Bí quyết để có được sự hạnh phúc trong cuộc sống hiện đại của người Thụy Điển là Lagom (phát âm là lah-gom), có nghĩa là không quá thừa cũng không quá thiếu, chỉ vừa đủ. Về bản chất, lagom có nghĩa là tận hưởng một cuộc sống đơn giản, tìm kiếm sự cân bằng trong mọi khía cạnh của cuộc sống và tập trung vào những gì thực sự quan trọng khiến bạn hạnh phúc. Lagom có nghĩa là biết được điều gì là thiết yếu trong cuộc sống của bạn và biết những thứ không thực sự cần đến. Người Thụy Điển coi lagom như là một kim chỉ nam trong cuộc sống. Một số ý kiến cho rằng lagom có thể là một lối sống tiêu cực, bởi nó dựa trên sự chối bỏ vật chất. Tuy nhiên, với sự bền bỉ chứng minh, người Thụy Điển đã cho chúng ta thấy lagom đã thực sự cải thiện cuộc sống bằng cách nắm lấy sự “vừa đủ“.

Trong một thế giới có nhịp độ sống nhanh, bạn sẽ trở nên tuyệt vời nếu bạn có thể sống chậm lại và tận hưởng một cuộc sống với ít áp lực hơn, ít căng thẳng hơn và có nhiều thời gian hơn cho mọi thứ bạn yêu thích, phải không?

Về bản chất, Lagom có nghĩa là tận hưởng một cuộc sống đơn giản, tìm kiếm sự cân bằng trong mọi khía cạnh của cuộc sống và tập trung vào những gì thực sự quan trọng khiến bạn hạnh phúc. Lagom – Một chữ đơn độc nầy, gói gọn toàn thể triết lý dân chủ xã hội của Thụy Điển về cuộc sống rằng:”mọi người nên có đủ nhưng không quá nhiều – “that everyone should have enough but not too much.”

Tại văn phòng, những chuyên gia làm việc chăm chỉ, nhưng không làm tổn hại đến những phần khác trong cuộc sống của họ. Thay vì đốt cháy bản thân với một tuần làm việc 60 giờ và sau đó bị căng thẳng, Lagom khuyến khích sự cân bằng và sống ở đâu đó ở giữa – living somewhere in the middle. Các tính năng khác bao gồm tiết kiệm, giảm căng thẳng, tạo ra sự cân bằng hoàn hảo giữa công việc và giải trí và tập trung vào các mối quan tâm về môi trường và tính bền vững cũng nằm trọn vẹn trong chữ Lagom.

Câu tục ngữ cổ điển của Thụy Điển, “Lagom är bäst”, nghĩa đen là, “Lượng vừa đủ là tốt nhứt” nhưng cũng được dịch là “Đủ tốt như một bữa lễ lạc” và “Có đức có chừng mực”.Enough is as good as a feast” and “There is virtue in moderation”.

Đến đây, chắc bạn đang tập thể dục Lagom về nhiều mặt trong cuộc sống của bạn rồi.

Nếu có một chữ để định nghĩa cuộc sống hiện đại của chúng ta ngày nay, thì đó chính là thừa thãi. Chúng ta đang sở hữu quá nhiều thứ, thậm chí cả những thứ chúng ta chẳng bao giờ cần đến. Bên cạnh đó, suy nghĩ về một cuộc sống hoàn hảo vô hình đã tạo ra cho chúng ta quá nhiều áp lực.

  •         Bạn đã bao giờ ngắm nghía cuộc sống của một người hoàn toàn lạ trên Facebook, Instagram và rồi ao ước rằng mình cũng như họ?
  •         Bạn đã bao giờ mua những bộ áo đắt tiền nhưng rồi để chúng trong tủ quần áo đến cả năm trời không mặc lấy một lần?
  •         Bạn đã bao giờ cảm thấy quá mệt mỏi với việc chạy đua theo chủ nghĩa vật chất, để lấp đầy cuộc sống của bản thân trong khi tâm hồn thì lại thiếu thốn?

Đây là lúc bạn cần biết đến Lagom, bí quyết sống hạnh phúc của người Thụy Điển. Đối với người Thụy Điển, Lagom là một lối sống, một thói quen của tâm trí. “Có một tư duy bên trong về sự chấp nhận và hài lòng ở Thụy Điển. Đó là một phần của bí quyết để trở nên hạnh phúc và đừng ám ảnh về điều đó. Triết lý của Lagom rất đơn giản và cung cấp một giải pháp thay thế cho ý tưởng “luôn tìm kiếm điều tốt nhất tiếp theo”. Khái niệm này khuyến khích sự cân bằng tổng thể trong cuộc sống của chúng ta, nghĩa là mọi thứ ở mức độ vừa phải. Nó đối lập với chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa tiêu dùng. Người Thụy Điển, đa số có một cuộc sống cân bằng. Họ làm việc chăm chỉ nhưng không để công việc hủy hoại gia đình. Họ tiêu dùng hợp lý nhưng không phung phí. Họ nghỉ ngơi đầy đủ nhưng không buông thả. Họ hưởng thụ cuộc sống nhưng không lệ thuộc vào vật chất.

Lagom phản ánh một nền văn hóa coi trọng sự điều độ và trách nhiệm xã hội. Người Thụy Điển thường tránh sự phô trương, ngay cả những người thành đạt cũng ít khi khoe khoang tài sản hay địa vị. Vì họ tin rằng giá trị của con người không nằm ở những gì sở hữu mà ở cách sống và những đóng góp cho cộng đồng.

Trong lĩnh vực môi trường, Lagom cũng có ý nghĩa đặc biệt. Một xã hội biết sống vừa đủ sẽ giảm thiểu việc tiêu thụ không cần thiết; giảm lượng rác thải; giảm áp lực lên tài nguyên thiên nhiên; và tăng tính bền vững cho/vì các thế hệ tương lai.

Nói cách khác, Lagom không chỉ là một triết lý cá nhân mà còn là một triết lý phát triển xã hội nghiêm chỉnh nhứt.

3- Wabi-sabi – Vẻ đẹp của sự bất toàn

Wabi sabi là một triết lý thẩm mỹ cổ xưa bắt nguồn từ Thiền tông, đặc biệt là trà đạo, một nghi lễ thuần khiết và đơn giản, trong đó các bậc thầy được đánh giá cao cái chén được làm thủ công và hình dạng bất thường, với men không đồng đều, vết nứt, và vẻ đẹp hư hỏng trong sự không hoàn hảo có chủ ý của của người tạo ra cái chén.

Triết lý Nhật Bản tôn vinh vẻ đẹp trong những gì là tự nhiên, sai sót và tất cả những gì không hoàn chỉnh.

Các chén cổ trong phòng khách của bạn được đánh giá cao vì những vết nứt và sứt mẻ của nó?

Điều gì sẽ xảy ra nếu chúng ta học cách “phát giải thưởng” những bất toàn, vết nứt trong lòng và những khiếm khuyết trong cuộc sống lộn xộn của chúng ta?

Wabi-Sabi (侘 寂), một thuật ngữ Nhật Bản có thể hiểu như là sự chấp nhận tính phù du (transience) và sự không hoàn hảo. Đây là một phong cách sống giúp chúng ta cảm nhận và trân trọng vẻ đẹp của những thứ không hoàn hảo, không vĩnh viễn, không trọn vẹn và từ những thứ khiếm khuyết nầy, một thứ tưởng chừng vô dụng, xấu xí lại có vẻ đẹp tiềm ẩn đến bất ngờ. Nếu sự luôn đổi mới là trò chơi suốt cuộc đời bạn, việc theo đuổi sự hoàn hảo không phải là cách để đạt được điều đó. Chúng ta hãy xem xét vẻ đẹp của một cái chén bị móp méo rồi từ đó chúng ta sẽ nghiệm ra…cái đẹp!

Khi con người chúng ta nhận định những “cái nhứt” như: cà phê tốt nhứt, xe tốt nhứt, điện thoại tốt nhứt, ứng dụng tốt nhứt, trường học tốt nhứt, bác sĩ giỏi nhứt, đầu bếp giỏi nhứt, công ty tốt nhứt, CEO giỏi nhứt, lực sĩ giỏi nhứt, huấn luyện viên giỏi nhứt, các nhà thiết kế tốt nhứt, diễn viên xuất sắc nhứt, phim hay nhứt, trang phục đẹp nhứt, nhà thiết kế tốt nhứt của trang phục đẹp nhứt, đạo diễn xuất sắc nhứt của những nữ diễn viên xuất sắc nhứt mặc trang phục đẹp nhứt và danh mục bắt mắt nhứt.v.v…Và, để làm nổi bật sự ngưỡng mộ của chúng ta về các sự “nhứt” trên, chúng ta tạo ra danh sách, viết lên banner và làm các nghi lễ để tưởng thưởng. v.v… như: trải thảm đỏ, chuẩn bị giải thưởng và danh hiệu sáng bóng, làm giấy chứng nhận.

Thực sự, những cái nhứt trên đã là “nhứt” chưa?

Do đó, sẽ còn những cái nhứt tiếp theo khi có sự đổi mới do con người tạo ra.

Tuy nhiên, nơi hoàn hảo nhứt đối với sự đổi mới là gì?

Trong một thế giới hoàn hảo, những ý tưởng hay nhứt sẽ thu hút những người tốt nhứt. Nhưng, trong thực tế, chúng ta hiếm khi nghĩ đến những ý tưởng tốt nhứt đưa ta đến thành công. Thường xuyên hơn, sự đổi mới bắt đầu với những ý tưởng không hoàn hảo được kết hợp với nhau bởi một nhóm ý tưởng không giống nhau và đồng dạng. Tất cả có thể đưa đến cơ hội không hoàn hảo!

Nếu chúng ta có một ý tưởng tuyệt vời, thì cần phải mất một thập kỷ để ý tưởng đó được chú ý đến. Đó là không hoàn hảo. Đổi mới không phải là một khoa học hoàn hảo và do đó không nên được thực hiện như thể nó là hoàn hảo. Chúng ta cần các số liệu mới, các quy trình mới và các ưu đãi mới để khuyến khích việc theo đuổi và công nhận sự không hoàn hảo của cuộc sống thực tế. Nhưng trước khi chúng ta bắt đầu xây dựng các căn bản tối thiểu để hỗ trợ sự đổi mới, trước hết chúng ta phải thay đổi thế giới quan của mình. Chúng ta không chỉ phải thay đổi cách chúng ta nghĩ mà còn là những gì chúng ta tin. Chúng ta phải học cách chấp nhận sự không hoàn hảo như một tài sản trong quá trình đổi mới trong ta.

4- Tri túc – Trí tuệ của sự biết đủ

Tri túc (知足) trong Phật giáo có nghĩa là biết đủ. Đây là trạng thái hài lòng, an vui với những gì mình đang có trong hiện tại, nỗ lực làm việc chân chính nhưng không để tâm tham đắm, mong cầu vượt quá giới hạn gây ra phiền não. Tri túc không có nghĩa là thụ động, lười biếng hay từ bỏ mọi mục tiêu tranh đấu. Trái lại, đây là phương thức làm chủ tâm trí, bảo vệ con người khỏi vòng xoáy của lòng tham và sự bất mãn.

Nếu Lagom nói về sự cân bằng và Wabi-sabi nói về sự chấp nhận, thì Tri túc trong Phật giáo nói về sự giải phóng nội tâm. Trong kinh điển Phật giáo có câu:“Tri túc giả phú”, tứcNgười biết đủ là người giàu có”. Đây là một trong những định nghĩa sâu sắc nhất về sự giàu có. Thông thường, xã hội đánh giá sự giàu có bằng tài sản, nhưng Phật giáo đánh giá bằng mức độ tự do và thoát khỏi lòng tham. Một người sở hữu hàng tỷ đô la nhưng luôn bất an vẫn là người nghèo về tinh thần, nhưng, ngược lại, một người sống giản dị nhưng thanh thản có thể là người giàu có thực sự. Từ đó, tri túc không phải là thái độ an phận hay từ bỏ mọi nỗ lực.

Đức Phật không khuyến khích con người lười biếng. Ngài chỉ nhắc rằng, mọi ham muốn đều cần có giới hạn, và khi lòng tham trở thành động lực chính của đời sống, con người sẽ không bao giờ cảm thấy đủ. Và khi không bao giờ cảm thấy đủ, hạnh phúc sẽ mãi mãi nằm ngoài tầm tay. Vì vậy, tri túc là nghệ thuật nhận ra giá trị của những gì mình đang có.

Đó là nền tảng của lòng biết ơn, của sự bình an và của tự do nội tâm.

5-    Những điểm tương đồng giữa ba triết lý

Dù xuất phát từ ba hoàn cảnh văn hóa khác nhau, Lagom, Wabi-sabi và Tri túc có nhiều điểm gặp gỡ và trùng hợp, cùng bổ túc lẫn nhau đáng kinh ngạc. Cả ba đều không khuyến khích sự thái quá, đề cao sự giản dị, tôn trọng thiên nhiên và nuôi dưỡng lòng nhân ái. Về việc không khuyến khích sự thái quá. Lagom phản đối việc tiêu dùng quá mức. Wabi-sabi phản đối sự theo đuổi hoàn hảo tuyệt đối. Tri túc phản đối lòng tham vô hạn. Tất cả đều hướng con người về sự quân bình.

Về việc đề cao sự giản dị, trong một thế giới ngày càng phức tạp, cả ba triết lý đều khẳng quyết rằng giá trị của cuộc sống không nằm ở số lượng mà nằm ở chiều sâu, thà ít hơn nhưng ý nghĩa hơn, thà đơn giản hơn nhưng nhân bản hơn.

Về việc tôn trọng thiên nhiên, Lagom hướng đến sự tiêu dùng bền vững, Wabi-sabi tìm thấy vẻ đẹp trong những chu kỳ tự nhiên của trời đất, và Tri túc khuyến khích giảm thiểu lòng tham đối với tài nguyên vật chất. Đây chính là những giá trị cần thiết cho việc bảo vệ môi trường trong thế kỷ XXI.

Về việc nuôi dưỡng lòng nhân ái, rõ ràng, người biết đủ thường ít ganh đua hơn (Tri túc), người chấp nhận bất toàn thường khoan dung hơn (Wabi-sabi), và người sống cân bằng thường dễ cảm thông hơn (Lagom).

Tóm lại, ba triết lý này đều góp phần xây dựng một xã hội nhân ái và hòa hợp.

6- Ý nghĩa đối với Việt Nam

Những triết lý lớn chỉ có giá trị khi chúng góp phần làm cho cuộc sống con người tốt đẹp hơn. Lagom, Wabi-sabi và Tri túc không phải là những khái niệm để trưng bày trong sách vở hay giảng đường. Chúng có thể trở thành những nguyên tắc thực tiễn giúp chúng ta định hướng được sự phát triển của xã hội trong tương lai.

Việt Nam đang ở một giai đoạn phát triển đầy cơ hội nhưng cũng đầy thách thức. Trong nhiều thập niên qua, đất nước đã đạt được những thành tựu đáng kể về kinh tế; tuy nhiên, cùng với sự phát triển ấy là nhiều vấn đề đáng suy nghĩ và cần đặt lại, như tình trạng ô nhiễm môi trường, việc khai thác tài nguyên quá mức. Về giáo dục, chương trình học tập, áp lực học sinh, bệnh thành tích, cùng việc chạy theo chỉ tiêu là những vấn nạn căn bản cần xét lại. Sự xuống cấp của các giá trị đạo đức trong xã hội cùng tâm lý sính vật chất ngày càng làm cho xã hội thoái hóa thêm ra. Và sau cùng, nguy hại tiềm ẩn nhứt là tình trạng căng thẳng và lo âu trong giới trẻ trước tương lai.

Những hiện tượng này cho thấy tăng trưởng kinh tế, dù cần thiết, không thể là mục tiêu duy nhất cho việc phát triển quốc gia. Một quốc gia muốn phát triển bền vững cần phải có một nền tảng văn hóa và đạo đức vững chắc. Lagom có thể giúp hình thành một nền văn hóa tiêu dùng có trách nhiệm; Wabi-sabi có thể giúp con người trân trọng bản sắc dân tộc và vẻ đẹp của những giá trị truyền thống; và Tri túc có thể giúp hạn chế lòng tham và củng cố tinh thần phụng sự cộng đồng.

Đó không phải là sự quay lưng với hiện đại hóa. Ngược lại, đó là cách làm cho hiện đại hóa trở nên nhân bản và đạo đức hơn. Đối với Việt Nam, điều này càng có ý nghĩa đặc biệt.

Về môi trường: Biết đủ để thiên nhiên được hồi phục. Trong hơn nửa thế kỷ qua, nhân loại đã khai thác thiên nhiên với tốc độ chưa từng có. Rừng bị tàn phá. Nguồn nước bị ô nhiễm. Đất đai bị thoái hóa. Biển cả bị khai thác quá mức. Nguyên nhân sâu xa không phải do khoa học kỹ thuật. Nguyên nhân nằm ở lòng tham không có giới hạn. Con người luôn muốn nhiều hơn, nhiều gỗ hơn, nhiều khoáng sản hơn, nhiều năng lượng hơn, nhiều lợi nhuận hơn. Trong tình trạng đó, Lagom và Tri túc đưa ra một bài học quan trọng:  

  •         Thiên nhiên không cần con người cứu giúp.
  •         Thiên nhiên chỉ cần con người ngừng phá hoại.

Một xã hội biết đủ sẽ giảm tiêu thụ không cần thiết. Một nền kinh tế biết đủ sẽ khai thác tài nguyên trong giới hạn tái tạo. Một quốc gia biết đủ sẽ đặt quyền lợi của các thế hệ tương lai ngang hàng với lợi ích trước mắt. Có lẽ trong thế kỷ XXI, khẩu hiệu phát triển cần được thay đổi. Không phải: “Phát triển bằng mọi giá.” Mà là: “Phát triển trong giới hạn của thiên nhiên.”

Đối với nền giáo dục hiện đại thường tập trung vào kiến thức và kỹ năng. Giáo dục ở Việt Nam hiện nay chánh yếu dạy học sinh nhiều hình thức cạnh tranh khác nhau, ít khi dạy các em cách sống hạnh phúc. Người trẻ sau khi tốt nghiệp, được học đủ mọi cách cách kiếm tiền dù lương thiện hay không lương thiện. Tuổi trẻ cố gắng học những phương cách thành công ngoài xã hội nhưng không được học (hay không muốn học) cách đối diện với sự thất bại! Do đó, một nền giáo dục tương lai cần bổ túc thêm những giá trị đạo đức và triết học nhân sinh. Học sinh, sinh viên cần hiểu rằng, không ai hoàn hảo, không ai chiến thắng mãi mãi, không ai sở hữu mọi thứ mình muốn. Trái lại, ai cũng có thể sống một cuộc đời có ý nghĩa. Một khi biết đủ, con người sẽ bớt ganh đua. Một khi chấp nhận bất toàn, con người sẽ bớt tự ti. Một khi sống cân bằng, con người sẽ bớt kiệt sức. Đó là những bài học quan trọng không kém toán học hay khoa học kỹ thuật.

Điều đó rất cần thiết, nhưng chưa đủ. Một học sinh có thể giỏi toán có thể giỏi khoa học, có thể giỏi công nghệ, nhưng vẫn có thể trở thành một người ích kỷ, tham lam hoặc vô cảm. Do đó, giáo dục tương lai phải đặt lại câu hỏi:”Mục đích cuối cùng của giáo dục là gì?” Nếu câu trả lời chỉ là tạo ra nguồn nhân lực thì giáo dục đã thất bại. Giáo dục phải đào tạo những con người có trách nhiệm với xã hội và với môi trường.

  •         Tinh thần Lagom có thể dạy học sinh biết sống cân bằng.
  •         Wabi-sabi giúp các em chấp nhận những khiếm khuyết của bản thân và của người khác.
  •         Tri túc giúp các em hiểu rằng giá trị con người không được đo bằng tiền bạc hay địa vị.

Một nền giáo dục như thế sẽ tạo ra những công dân trưởng thành chứ không chỉ những người lao động có kỹ năng.

Về y tế, ngày nay, nhiều căn bệnh phổ biến không chỉ xuất phát từ vi khuẩn hay virus. Chúng bắt nguồn từ lối sống, cung cách ăn uống, và tâm lý buông thả. Từ đó sinh ra bịnh béo phì, tiểu đường, cao huyết áp, bị áp lực (stress), trầm cảm, tâm lý lo âu kéo dài. Những chứng bệnh ấy thường liên quan đến nhịp sống quá nhanh, áp lực quá lớn và những ham muốn không có điểm dừng. Và trong lãnh vực nầy:

  •         Lagom khuyến khích một lối sống điều độ là làm việc vừa phải, ăn uống hợp lý, và nghỉ ngơi đầy đủ.
  •         Wabi-sabi giúp con người chấp nhận quá trình lão hóa tự nhiên thay vì sống trong nỗi ám ảnh phải trẻ mãi.
  •         Tri túc giúp giảm bớt những căng thẳng phát sinh từ sự so sánh và cạnh tranh không ngừng.

Vì vậy, một hệ thống y tế tiến bộ không chỉ chữa bệnh khi bệnh đã xuất hiện, mà còn cần đề phòng bịnh nữa. Nó còn giúp xây dựng những điều kiện xã hội để con người sống khỏe mạnh ngay từ đầu.

7-. Một nền văn minh của lòng biết đủ

Có thể nói rằng phần lớn các cuộc khủng hoảng hiện nay trên thế giới đều bắt nguồn từ một nguyên nhân chung cho nhân loại rằng con người muốn nhiều hơn mức cần thiết, muốn tiêu thụ nhiều hơn, muốn khai thác nhiều hơn, muốn thống trị nhiều hơn, muốn sở hữu nhiều hơn. Nhưng Trái Đất có giới hạn, Tài nguyên có giới hạn, và Tuổi thọ cũng có giới hạn. Và ngay cả cuộc đời con người cũng có giới hạn! Do đó, một nền văn minh bền vững không thể được xây dựng trên những ham muốn vô hạn. Một nền văn minh bề vững phải được xây dựng trên ý thức về giới hạn. Ý thức ấy chính là điểm gặp nhau của Lagom, Wabi-sabi và Tri túc.

7-    Thay lời kết

Lagom của Thụy Điển dạy chúng ta nghệ thuật sống vừa đủ. Wabi-sabi của Nhật Bản dạy chúng ta vẻ đẹp của sự bất toàn. Tri túc của Phật giáo dạy chúng ta sự tự do tránh khỏi lòng tham. Ba triết lý ấy không phải là những học thuyết kinh tế hay những chương trình chính trị. Chúng là những lời nhắc nhở sâu sắc về thân phận con người.

Trong một thế giới mà mọi người đều muốn tiến nhanh hơn, sở hữu nhiều hơn và tiêu thụ nhiều hơn, các triết lý ấy nhắc chúng ta dừng lại để tự hỏi chính mính:

Ta đang sống vì điều gì?

Ta cần bao nhiêu là đủ?

Điều gì thực sự tạo nên hạnh phúc?

Có lẽ câu trả lời không nằm trong những tòa nhà cao hơn, những chiếc máy hiện đại hơn hay những tài khoản ngân hàng lớn hơn. Mà câu trả lời nằm trong khả năng sống hài hòa với thiên nhiên, với cộng đồng và với chính bản thân mình. Một con người biết đủ sẽ có bình an. Một xã hội biết đủ sẽ có công bằng. Một nền văn minh biết đủ sẽ có tương lai. Đó có lẽ là thông điệp quý giá nhất mà Lagom, Wabi-sabi và Tri túc gửi đến nhân loại trong thế kỷ XXI.

Từ “phát triển bằng mọi giá” đến “phát triển có giới hạn và có lương tri”. Nếu cần phải tóm tắt ba triết lý này trong ba động từ, có thể nói:”Lagom chỉ cho ta biết giới hạn. Wabi-sabi chỉ cho ta biết chấp nhận. Tri túc chỉ cho ta biết buông bỏ”. Ba bài học ấy tưởng chừng như giản dị, nhưng chính sự giản dị đó lại là điều mà nền văn minh hiện đại đang bị đánh mất. Chúng ta đã học cách khai thác thiên nhiên, nhưng chưa học đủ các phương cách phải dừng lại trước khi thiên nhiên bị thoái hóa và biến thành sa mạc hóa. Chúng ta đã học cách cạnh tranh để thành công, nhưng chưa học đủ cách sống tử tế để không hủy hoại nhau. Chúng ta đã học cách sản xuất nhiều hơn, nhưng chưa học đủ cách nhận ra điều gì là đủ, là điểm tới hạn (threshold limit) nào để dừng lại trước khi quá muộn.

 Vấn đề của thế kỷ XXI không còn là sự khiếm khuyết về năng lực khoa học kỹ thuật. Vấn đề chánh yếu vẫn là thiếu giới hạn đạo đức đối với việc sử dụng năng lực ấy. Không có trí tuệ nào đủ lớn để bù cho một lòng tham không giới hạn của một cá nhân hay một tập thể lãnh đạo quốc gia. Không có tăng trưởng nào đủ nhanh để cứu một xã hội đánh mất niềm tin và lòng nhân ái. Không có công nghệ nào đủ hiện đại để thay thế một nền đạo đức biết tự kiềm chế.

 Vì vậy, bài học sâu xa nhất của Lagom, Wabi-sabi và Tri túc không phải là sống ít đi, nghèo đi hay chậm lại một cách cực đoan. Bài học ấy chính là con người phải học cách đặt giới hạn cho sự ham muốn của mình trước khi những điều kể trên đạt tới giới hạn của thiên nhiên, của xã hội và của chính sự sống bị áp đặt bằng những khủng hoảng nội tâm. Đối với Việt Nam, điều cần thiết không chỉ là một nền kinh tế mạnh hơn, mà là:

         Một nền kinh tế biết tự giới hạn trong khuôn khổ sinh thái;

  •         Không chỉ là một hệ thống giáo dục cạnh tranh hơn, mà là một nền giáo dục dạy lòng biết đủ và trách nhiệm công dân;
  •         Không chỉ là một nền y tế chữa được nhiều bệnh hơn, mà còn là một xã hội tạo ra ít nguyên nhân gây bệnh hơn;
  •         Không chỉ là những đô thị lớn hơn, mà còn là những cộng đồng đáng sống hơn. (Mời đọc “Việt Nam Tương Lai. Tập I và II của cùng tác giả. Xuất bản năm 2014).

Một dân tộc biết đủ sẽ khó bị lôi kéo vào những cuộc chạy đua nhằm hủy hoại chính đất nước mình. Một dân tộc biết chấp nhận sự bất toàn sẽ khoan dung hơn với sự khác biệt và mạnh mẽ hơn trước những biến động. Một dân tộc biết tự giới hạn lòng tham sẽ có cơ hội phát triển bền vững mà không phải trả giá bằng môi trường, sức khỏe và phẩm giá của con người. 

Trong nhiều thế kỷ, nhân loại đã đặt câu hỏi: “Làm sao để mạnh hơn?” Có lẽ câu hỏi của thời đại mới phải là: “Làm sao để mạnh mà không tự hủy diệt mình?” Nếu không học được bài học ấy, mọi thành tựu vật chất cuối cùng có thể chỉ là những công trình xây trên nền đất đang lún. Nếu học được bài học ấy, nhân loại vẫn còn cơ hội xây dựng một nền văn minh mà ở đó phát triển không đối nghịch với đạo đức, giàu có không đồng nghĩa với tham lam, và tiến bộ không phải trả giá bằng tương lai của những thế hệ chưa sinh ra. Đó không chỉ là một lựa chọn triết học. Đó là một lựa chọn sinh tồn.

 Và Việt Nam, chắc chắn sẽ không có sự lựa chọn nào khác nữa! 

Mai Thanh Truyết

Con đường Việt Nam

Mùa Phật đản 2026 –  Wednesday, June 17, 2026


 

RỒI RA SẼ THẾ NÀO? – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Đứa trẻ này rồi ra sẽ thế nào đây? Và quả thật, có bàn tay Chúa phù hộ em!”.

“Thiên Chúa sử dụng bạn để trở thành một ai đó mà bạn không bao giờ có thể tự mình trở thành!” – Philip C. Brewer.

Kính thưa Anh Chị em,

“Không biết ‘rồi ra sẽ thế nào?’”, đó cũng là điều họ hàng của Zacharia – Êlisabeth tự hỏi về Gioan; và có lẽ, mỗi người cũng từng âm thầm tự hỏi điều ấy về chính mình.

Một em bé chào đời là cách Thiên Chúa nói với thế giới rằng, “Nó sẽ tiếp tục!”. Mỗi sự sống mới là một phóng chiếu của Thiên Chúa đã mang lấy hình hài. Một đôi hiếm muộn ‘mong mỏi’ nó; Thiên Chúa thì ‘khát khao’ nó! Với bất cứ một sinh linh nào, chúng ta đều tin như vậy, phương chi đối với vị Tiền Hô của Con Thiên Chúa! “Gioan” – Yôhanan – nghĩa là “Đức Chúa đã thi ân”. Trước khi Gioan làm bất cứ điều gì cho Đấng Cứu Thế, chính tên của ông đã là một Tin Mừng.

“Rồi ra sẽ thế nào?” là câu hỏi của con người; “Ta muốn nó trở thành ai?” mới là câu hỏi của Thiên Chúa. Chúng ta thường lo về tương lai; Thiên Chúa lại chăm sóc một ơn gọi. Vì thế, “có bàn tay Chúa phù hộ em” không chỉ nói đến sự che chở, nhưng nói đến một bàn tay đang nhào nặn. Điều quan trọng nhất nơi một con người không phải là điều họ sẽ làm, nhưng là con người họ được mời gọi trở nên. “Gioan được thánh hoá từ dạ mẹ!” – Tôma Aquinô; “Gioan đầy Thánh Thần trong lòng mẹ!” – Luca.

Như vậy, Gioan đã có một tên gọi trước khi có một cuộc đời. Được sinh ra đã là một huyền nhiệm; được gọi tên là một ân ban; được sai đi lại là một huyền nhiệm lớn hơn. Isaia xác tín, “Chúa đã gọi tôi từ khi tôi còn trong lòng mẹ!” – bài đọc một. Những lời ấy ứng nghiệm cách sung mãn nơi Chúa Giêsu, cách đặc biệt nơi Gioan và, theo một nghĩa nào đó, nơi mỗi người chúng ta. Phaolô xác nhận, “Để dọn đường cho Người, ông Gioan đã rao giảng” – bài đọc hai. Trước mầu nhiệm được dựng nên và được sai đi ấy, Thánh Vịnh đáp ca cất cao lời tri ân, “Tạ ơn Chúa đã dựng nên con cách lạ lùng!”.

Ân sủng Bí tích Rửa Tội nhắc chúng ta rằng: trước khi thuộc về bất cứ ai, chúng ta đã thuộc về Thiên Chúa; trước khi chọn một con đường, chúng ta đã được Ngài biết đến và sai đi. “Bạn không phải là một sự tình cờ. Bạn được Chúa muốn, được Chúa biết và được Chúa yêu!” – Bênêđictô XVI.

Anh Chị em,

Gioan sinh ra không để người khác dừng lại nơi mình, nhưng để dẫn họ đến với Đức Kitô. Tên Giêsu – Iēsous, trong Hy Lạp – có nghĩa là “Đức Chúa cứu”. Ngài đến không chỉ để cứu chúng ta khỏi tội lỗi, nhưng còn để mặc khải chúng ta là ai trước mặt Thiên Chúa. Chỉ nơi Đức Giêsu, câu hỏi ‘Rồi ra sẽ thế nào?’ của mỗi người mới tìm được câu trả lời sau cùng: chúng ta được dựng nên để được cứu độ, để cộng tác vào công trình cứu độ của Ngài và để nên thánh. “Hãy trở nên con người Chúa muốn bạn trở thành, và bạn sẽ làm bừng cháy cả thế giới!” – Catarina Siêna.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, đừng để con phụ lòng Chúa khi không đáp lại điều Chúa hằng ước mong nơi con từ muôn đời!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

************************

LỜI CHÚA,  SINH NHẬT THÁNH GIOAN TẨY GIẢ 

24/6, Thứ Tư, Tuần XII

Tên cháu là Gio-an.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca.    Lc 1,57-66.80

57 Tới ngày mãn nguyệt khai hoa, bà Ê-li-sa-bét sinh hạ một con trai. 58 Nghe biết Chúa đã quá thương bà như vậy, láng giềng và thân thích đều chia vui với bà.

59 Khi con trẻ được tám ngày, họ đến làm phép cắt bì, và tính lấy tên cha là Da-ca-ri-a mà đặt cho em. 60 Nhưng bà mẹ lên tiếng nói : “Không! Phải đặt tên cháu là Gio-an.” 61 Họ bảo bà : “Trong họ hàng của bà, chẳng ai có tên như vậy cả.” 62 Rồi họ làm hiệu hỏi người cha, xem ông muốn đặt tên cho em bé là gì. 63 Ông xin một tấm bảng nhỏ và viết : “Tên cháu là Gio-an.” Ai nấy đều bỡ ngỡ. 64 Ngay lúc ấy, miệng lưỡi ông lại mở ra, ông nói được, và chúc tụng Thiên Chúa. 65 Láng giềng ai nấy đều kinh sợ. Và các sự việc ấy được đồn ra khắp miền núi Giu-đê. 66 Ai nghe cũng để tâm suy nghĩ và tự hỏi : “Đứa trẻ này rồi ra sẽ thế nào đây ?” Và quả thật, có bàn tay Chúa phù hộ em.

80 Cậu bé càng lớn lên thì tinh thần càng vững mạnh. Cậu sống trong hoang địa cho đến ngày ra mắt dân Ít-ra-en.


 

NGÀY TÔI QUA ĐỜI – Lm. Anmai, CSsR 

KHẢ TÂMChuyện tuổi Xế Chiều

NGÀY TÔI QUA ĐỜI – Lm. Anmai, CSsR 

Vào ngày tôi qua đời, rất nhiều điều sẽ xảy ra, rất nhiều thay đổi sẽ diễn ra và thế giới sẽ bận rộn như thường lệ, như thể không có gì thực sự quan trọng đã mất đi. Mọi người vẫn thức dậy vào buổi sáng, pha cà phê, chen chúc trên đường phố, cười đùa với bạn bè, lo lắng về hóa đơn, mơ mộng về kỳ nghỉ sắp tới. Cuộc sống vẫn tiếp diễn với nhịp độ hối hả quen thuộc, không dừng lại để thương tiếc một cá nhân nào đó quá lâu. Nhưng đối với tôi, mọi thứ sẽ kết thúc vĩnh viễn. Đó là ngày mà tôi không còn hiện diện, không còn tham gia vào dòng chảy của thế gian nữa. Và khi suy ngẫm về ngày ấy, tôi nhận ra rằng cuộc đời này ngắn ngủi biết bao, mong manh biết bao, và chúng ta thường lãng phí nó vào những điều phù phiếm, những thứ mà cuối cùng chẳng mang theo được gì.

Vào ngày tôi qua đời, tất cả những cuộc hẹn hò tôi đã lên lịch sẽ không có tôi nữa. Những buổi cà phê với bạn bè cũ, những cuộc gặp gỡ đối tác kinh doanh, những buổi hẹn lãng mạn mà tôi từng háo hức chờ đợi, tất cả sẽ bị hủy bỏ hoặc diễn ra trong sự thiếu vắng đột ngột. Không ai còn chờ tôi xuất hiện với nụ cười quen thuộc, không ai còn nhắn tin hỏi han xem tôi có đến muộn không. Những kế hoạch tôi đã vạch ra cẩn thận, từ những chuyến du lịch mơ ước đến những mục tiêu dài hạn trong sự nghiệp, sẽ mãi mãi dang dở. Chúng sẽ nằm im lìm trong cuốn sổ tay, trên ứng dụng lịch điện tử, hoặc trong trí nhớ của những người thân cận, như những lời nhắc nhở thầm lặng về một cuộc đời bị cắt ngang giữa chừng. Lịch công việc của tôi sẽ chẳng còn liên quan chút nào đến tôi nữa. Những cuộc họp đang chờ đợi, những dự án đang sôi sục, những trách nhiệm tôi từng gánh vác với tất cả nhiệt huyết, sẽ được chuyển giao cho người khác một cách vội vã, hoặc đơn giản là bị đẩy sang một bên, rồi dần bị lãng quên theo dòng thời gian.

Tất cả những giá trị vật chất tôi đã theo đuổi và gìn giữ suốt bao năm sẽ rơi vào tay của những người khác để họ chăm lo hoặc vứt bỏ mà không chút do dự. Ngôi nhà mà tôi đã dành bao công sức trang trí, sửa chữa, biến nó thành tổ ấm, sẽ thuộc về người thừa kế hoặc bị bán đi cho người lạ. Chiếc xe hơi mà tôi tự hào lái, những món đồ xa xỉ tôi tích cóp mua sắm, bộ sưu tập sách hay quần áo mà tôi trân trọng, tất cả sẽ được phân chia, tặng đi, hoặc nằm phủ bụi trong góc nhà. Tôi từng lo lắng ngày đêm về tiền bạc, về việc đầu tư thông minh, về việc bảo vệ tài sản để đảm bảo một tương lai an toàn cho bản thân và gia đình. Tôi đã hy sinh bao giấc ngủ, bao khoảnh khắc vui vẻ để tích lũy, để mở rộng. Nhưng vào ngày ấy, chúng chẳng còn ý nghĩa gì với tôi nữa. Chúng chỉ là những thứ vô tri vô giác, không thể mang theo khi bước qua ngưỡng cửa cuối cùng. Tiền bạc, nhà cửa, của cải – tất cả chỉ là ảo mộng mà con người tự tạo ra để trấn an bản thân trong cuộc sống tạm bợ này.

Những lời chỉ trích từng đè nặng tâm trí tôi sẽ không còn ám ảnh tôi nữa. Những lời nói cay nghiệt từ đồng nghiệp, những đánh giá khắc nghiệt từ xã hội, những lời thì thầm sau lưng mà tôi từng nghe ngóng và đau đớn, tất cả sẽ tan biến như khói. Không ai còn có thể đụng chạm đến tôi bằng lời lẽ hay hành động, không ai còn có thể làm tổn thương trái tim tôi thêm lần nào. Tôi sẽ được giải thoát hoàn toàn khỏi những gánh nặng vô hình ấy, khỏi sự phán xét không ngừng nghỉ của thế gian. Những cuộc tranh luận tôi từng giành chiến thắng, những lần tôi kiên trì chứng minh mình đúng trước đám đông, cũng chẳng còn có thể phục vụ tôi hoặc an ủi, giúp tôi hài lòng nữa. Sự tự hào về những chiến thắng nhỏ nhen ấy sẽ trở nên vô ích, như những huy chương bụi bặm trên kệ sách. Và những điều tiếc nuối của tôi chỉ còn là quá khứ xa xôi, với những câu bắt đầu bằng “lẽ ra…”. Lẽ ra tôi đã dành nhiều thời gian hơn bên cha mẹ già yếu, lẽ ra tôi đã gọi điện cho người bạn cũ ấy thường xuyên hơn, lẽ ra tôi đã dũng cảm theo đuổi đam mê thay vì chọn con đường an toàn, lẽ ra tôi đã tha thứ cho những lỗi lầm nhỏ nhặt để trái tim nhẹ nhàng hơn.

Hình ảnh mà tôi đã mất công gìn giữ suốt bao năm, hình ảnh tôi đã cố gắng hết sức để người khác nhìn thấy và công nhận, cũng không còn ý nghĩa gì nữa. Tôi từng chăm chút ngoại hình, chọn quần áo phù hợp với địa vị, nói năng khéo léo để tạo ấn tượng tốt, xây dựng một vỏ bọc hoàn hảo che đậy những nỗi bất an bên trong. Tôi lo lắng về cách người khác nghĩ về mình, về việc duy trì hình ảnh thành công, hạnh phúc, mạnh mẽ. Nhưng vào ngày ấy, hình ảnh ấy sẽ phai mờ nhanh chóng. Danh tiếng mà tôi đã vật vã để tạo ra và duy trì sẽ chẳng còn tác dụng gì với tôi nữa. Những lời khen ngợi từ đám đông, những chức vụ cao sang, những bài báo ca tụng, tất cả sẽ thuộc về quá khứ. Người ta có thể nhắc đến tôi một thời gian ngắn ngủi, trong những câu chuyện phiếm hoặc bài điếu văn, nhưng rồi cuộc sống sẽ cuốn họ đi, và tên tuổi tôi sẽ dần chìm vào quên lãng, như bao nhiêu con người khác đã từng tồn tại trên đời này.

Tất cả những nỗi lo lắng trong cuộc sống đã lấy đi của tôi biết bao đêm ngủ ngon bây giờ chẳng còn khiến tôi mệt mỏi nữa. Những lo âu về sức khỏe suy giảm theo tuổi tác, về tiền bạc thiếu thốn trong tương lai, về con cái trưởng thành ra sao, về những rủi ro bất ngờ từ công việc hay mối quan hệ, chúng từng khiến tôi trằn trọc, nằm thao thức đến sáng. Tôi đã dành bao năng lượng để suy nghĩ, lập kế hoạch đối phó, tìm cách kiểm soát mọi thứ. Nhưng khi nhắm mắt xuôi tay, mọi lo lắng ấy sẽ tan biến hoàn toàn, như chưa từng tồn tại. Những điều bí ẩn liên quan đến cuộc sống và cái chết, vốn đã từng choán hết tâm trí tôi, những câu hỏi triết lý về ý nghĩa của sự tồn tại, về linh hồn đi đâu sau khi rời xác thân, về có hay không một thế giới bên kia, bây giờ đã trở nên hết sức sáng tỏ. Tôi từng sợ hãi cái chết, từng đọc sách, tìm kiếm câu trả lời từ tôn giáo, triết học, khoa học. Nhưng vào khoảnh khắc ấy, tất cả sẽ rõ ràng, không còn bí ẩn nữa. Tất cả những điều ấy trở nên thực tế một cách giản đơn vào ngày tôi qua đời.

Cuộc đời con người thật kỳ lạ và mâu thuẫn. Chúng ta dành phần lớn thời gian để chạy theo những thứ phù phiếm, để xây dựng những thứ sẽ tan vỡ theo thời gian một cách không thương tiếc. Chúng ta bận rộn với sự nghiệp, với việc thăng tiến, với việc chứng minh giá trị bản thân trước thế giới rộng lớn. Chúng ta tích lũy của cải, đuổi theo danh vọng, cạnh tranh không ngừng nghỉ, và quên mất rằng mọi thứ đều có hạn kỳ rõ ràng. Cái chết không phải là một kết thúc đáng sợ nhất, mà là lời nhắc nhở mạnh mẽ nhất, sắc bén nhất về giá trị thực sự của cuộc sống. Nó dạy chúng ta rằng thời gian là tài sản quý giá nhất mà chúng ta sở hữu, và chúng ta không nên lãng phí nó vào những pursuit vô bổ, những mối hận thù nhỏ nhen, những lo toan không đáng.

Nhưng dù rất nhiều điều sẽ xảy ra hôm đó, dù thế giới thay đổi ở vô số khía cạnh nhỏ bé liên quan đến tôi, có một điều chắc chắn sẽ xảy ra, một điều chân thực và sâu sắc nhất. Vào ngày tôi chết, sẽ chỉ có vài người thực sự hiểu và yêu thương tiếc tôi một cách chân thành. Họ sẽ cảm thấy sự trống vắng sâu thẳm trong lòng, như một khoảng tối đột ngột bao trùm lấy cuộc sống hàng ngày. Họ sẽ cảm thấy bị cuộc đời lừa dối, như thể mọi kế hoạch tương lai chung đột nhiên bị xé toạc. Họ chưa cảm thấy sẵn sàng để tiễn đưa tôi, chưa chuẩn bị tâm lý cho sự chia ly vĩnh viễn ấy. Họ sẽ cảm thấy một phần trong họ cũng chết đi theo tôi, vì những kỷ niệm chung, những tình cảm sâu đậm đã gắn kết chúng ta. Đó không phải là đám đông giả tạo, không phải những lời chia buồn xã giao từ xa xôi, mà chỉ vài người thực sự gần gũi, những người đã chia sẻ với tôi những khoảnh khắc chân thực nhất của cuộc đời: những bữa ăn gia đình, những cuộc trò chuyện đêm khuya, những lúc vui buồn bên nhau.

Tôi biết điều này từ chính những người tôi đã yêu mến và khóc thương khi họ qua đời. Khi mất đi một người thân yêu, nỗi đau không phải là những lời an ủi suông, mà là khoảng trống không thể lấp đầy trong trái tim. Là những thói quen hàng ngày đột ngột thiếu vắng, những câu nói đùa quen thuộc không còn ai đáp lại, những kỷ niệm ùa về khiến nước mắt lặng lẽ rơi trong đêm tối. Tôi đã trải qua nỗi đau ấy nhiều lần, và chính từ đó, tôi nhận ra rằng tình yêu thực sự, sự kết nối chân thành với con người là thứ duy nhất còn lại sau cái chết, là thứ duy nhất mang ý nghĩa trường tồn.

Và vì hiểu điều ấy một cách sâu sắc, trong khi đang còn sống, còn hơi thở, tôi sẽ cố gắng ghi nhớ rằng thời gian trên đời của tôi là có hạn và trôi rất nhanh, rằng mỗi ngày trôi qua là một ngày không bao giờ trở lại. Thời gian rất đáng quý, quý hơn vàng bạc, quý hơn bất kỳ của cải nào. Tôi sẽ làm tất cả để không lãng phí phần đời còn lại của mình vào những điều vô ích. Tôi sẽ ưu tiên những khoảnh khắc bên người thân yêu, những cái ôm ấm áp không cần lý do, những lời nói yêu thương được thốt ra kịp thời. Tôi sẽ không để công việc hay tiền bạc chi phối hoàn toàn cuộc sống, không để sự theo đuổi danh vọng làm mờ mắt trước những điều giản dị đẹp đẽ. Tôi sẽ học cách buông bỏ những lo lắng vô ích, những hận thù nhỏ nhen, những tranh chấp không đáng để giữ lấy sự bình an nội tâm.

Đừng bỏ lỡ cơ hội để nhảy với người yêu thương khi bạn còn có thể, khi cơ thể còn khỏe mạnh, khi trái tim còn rung động. Hãy tưởng tượng những buổi tối gia đình quây quần, tiếng nhạc vang lên rộn ràng, mọi người cùng nhảy múa tự do, cười đùa mà không ngại ngùng về tuổi tác hay hình thức. Những khoảnh khắc ấy mới là hạnh phúc thực sự, là những viên ngọc quý mà cuộc đời ban tặng. Chẳng có gì dễ hơn việc lãng phí ánh sáng ban ngày trong những ngày trước khi bạn chết. Chúng ta thường dành thời gian cho màn hình điện thoại, cho mạng xã hội ảo, cho những cuộc trò chuyện vô bổ, cho những công việc lặp lại nhàm chán, mà quên mất rằng cuộc đời đang trôi qua từng giây từng phút, không chờ đợi ai.

Đừng để những điều bạn cho là quan trọng đánh cắp cuộc đời của bạn hàng ngày, bởi vào ngày bạn chết, những điều ấy chẳng còn ý nghĩa gì nữa. Sự nghiệp thành công rực rỡ, tài sản đồ sộ tích lũy, danh tiếng lẫy lừng vang xa – tất cả sẽ trở nên vô nghĩa, như bụi tro bay theo gió. Chỉ có tình yêu chân thành, sự kết nối sâu sắc với con người, những kỷ niệm đẹp đẽ được xây dựng từ những điều nhỏ bé mới trường tồn trong lòng những người ở lại, và có lẽ, trong một chiều kích nào đó mà chúng ta chưa biết.

Phải, một ngày nào đó tôi và bạn sẽ chết. Đó là sự thật không thể tránh khỏi, là quy luật bất biến của tạo hóa, không phân biệt giàu nghèo, sang hèn, thông minh hay bình thường. Không ai thoát khỏi vòng luân hồi ấy. Nhưng trước khi ngày đó đến, chúng ta hãy sống. Hãy sống trọn vẹn từng khoảnh khắc, hãy yêu thương hết mình mà không tính toán, hãy tha thứ cho những vết thương cũ để trái tim nhẹ nhàng, hãy buông bỏ những gánh nặng không cần thiết. Hãy dành thời gian cho những điều thực sự quan trọng: gia đình quây quần, bạn bè chân thành, những đam mê cháy bỏng, và sự bình an nội tâm sâu lắng.

Hãy nghĩ về cái chết không phải để sợ hãi hay trốn tránh, mà để sống tốt hơn, ý nghĩa hơn mỗi ngày. Mỗi buổi sáng thức dậy, hãy tự nhắc mình rằng hôm nay có thể là ngày cuối cùng, và rồi hãy sống sao cho không hối tiếc. Hãy nói lời yêu thương khi còn có thể nghe thấy, hãy ôm chặt người thân khi họ còn bên cạnh, hãy cười thật nhiều, hãy trải nghiệm thật sâu, hãy cho đi thật nhiều. Cuộc đời ngắn ngủi, nhưng nếu sống đúng cách, nó sẽ đẹp đẽ và trọn vẹn vô cùng.

Lm. Anmai, CSsR 


 

“NGÀY CÒN CHA, XIN ĐỪNG ĐỂ MUỘN” – PHẠM SƠN LIÊM 

FATHER’S DAY:  “NGÀY CÒN CHA, XIN ĐỪNG ĐỂ MUỘN”

PHẠM SƠN LIÊM 

Có những ngày trong năm người ta mong đợi chờ vì quà tặng, vì những cuộc vui.

Nhưng Father’s Day lại khác.

Đó là ngày làm nhiều người mỉm cười. 

Và cũng là ngày làm nhiều người lặng lẽ quay mặt đi lau nước mắt.

Với người còn cha, xin đừng quên nhấc điện thoại lên gọi một cuộc.

Chỉ một câu:

“Ba khỏe không?”

Đôi khi, với một người cha già, câu hỏi ấy quý hơn mọi món quà đắt tiền.

Rồi sẽ có một ngày…

Điện thoại vẫn còn đó.

Số của cha vẫn còn đó.

Nhưng đầu dây bên kia sẽ không còn ai bắt máy nữa.

 Ngày còn nhỏ, chúng ta luôn nghĩ cha là người mạnh nhất thế gian.

Cha sửa được chiếc xe hư.

Cha khiêng được bao gạo nặng.

Cha đánh đuổi được những điều làm con sợ hãi.

Cha giống như một ngọn núi.

Lớn lên mới hiểu… Ngọn núi ấy cũng biết mỏi. Đôi vai ấy cũng biết đau. Mái tóc ấy cũng bạc đi từng ngày.

Nhưng cha vẫn âm thầm gánh hết những lo toan mà không bao giờ kể.

Có những người cha cả đời chưa từng nói:

“Ba thương con.”

Nhưng họ thức trắng đêm khi con bệnh.

Họ ăn phần cơm nguội để con được phần ngon.

Họ mặc chiếc áo cũ nhiều năm để dành tiền cho con đi học.

Tình yêu của cha không nằm trên môi.

Mà nằm trong những hy sinh lặng lẽ suốt một đời. 

Còn với những ai đã mất cha… Father’s Day đôi khi là một vết cắt trong tim. Bước ngang một cửa tiệm thấy người ta mua quà cho cha.

Lướt qua một tấm hình gia đình. Nghe ai đó gọi hai tiếng “Ba ơi”…

Tự nhiên mắt cay.

Tự nhiên thấy nhớ. Nhớ một giọng nói. Nhớ một dáng đi.

Nhớ một người đã không còn trở về nữa.

Có những người cha ra đi vì tuổi già.

Có những người cha ra đi vì bệnh tật.

Có những người cha nằm lại nơi chiến trường từ khi con còn rất nhỏ.

Để rồi cả cuộc đời, đứa con ấy chỉ biết cha qua một tấm hình đã ngả màu. Một tấm hình được đặt trang trọng trên bàn thờ. 

Năm tháng qua đi. Con người có thể trưởng thành. Có thể già đi. Có thể làm cha, làm ông. Nhưng khi nghĩ về cha mình… Ai cũng lại thấy mình là đứa trẻ. Đứa trẻ năm nào vẫn mong được cha xoa đầu một lần. Được nghe cha gọi tên một lần. Được ngồi bên cha thêm một bữa cơm. Dù chỉ một lần thôi.

 Nếu hôm nay cha còn sống…

Xin hãy ôm cha. Nếu ngại ngùng, hãy gọi một cuộc điện thoại. Nếu ở gần, hãy về nhà ăn với cha một bữa cơm.

Đừng đợi đến khi chỉ còn nén nhang trên bàn thờ mới nói lời yêu thương.

Bởi lúc ấy…

Cha không còn nghe được nữa. Và nếu cha đã đi xa…

Xin hãy dành cho cha một lời cầu nguyện.

Một nén hương.

Một ký ức đẹp.

Bởi cha chưa bao giờ thật sự mất đi.

Cha vẫn sống trong từng bước chân của con.

Trong cách con đối xử với gia đình.

Trong những điều tốt đẹp con làm mỗi ngày.

 Father’s Day.

Xin cầu chúc những ai còn cha biết trân quý thời gian đang có. Và xin gửi một lời thương nhớ đến những người cha đã đi về phía bên kia bầu trời. Nơi ấy, có lẽ họ vẫn đang dõi theo chúng ta. Vẫn âm thầm mỉm cười. Vẫn là người hùng của đời con.

Mãi mãi.

Phạm Sơn Liêm. 


 

BÀN TAY CHA – TG: VÔ DANH – Truyen ngan HAY

 BÀN TAY CHA – TG:  VÔ DANH

(Kính gửi đến những người Cha, những người lính quân lực VNCH anh hùng)

Bàn Tay Cha

Father’s Day lại về trên đất Mỹ. Trong các cửa hàng, người ta bày bán những tấm thiệp in hình chiếc cà vạt, cây gậy golf, chiếc ly có dòng chữ “World’s Best Dad”. Nó đứng lặng giữa những kệ hàng rực rỡ ấy, và không hiểu sao mắt bỗng thấy cay cay. Bởi trên đời này, không một tấm thiệp nào vẽ nổi đôi bàn tay của cha nó.

Đôi bàn tay ấy, đã có một thời cầm súng.

Nó không được tận mắt thấy những năm tháng cha nó khoác áo lính, nhưng nó biết — trong những bức hình cũ ố vàng, người sĩ quan trẻ đứng nghiêm dưới lá cờ vàng 3 sọc đỏ, ánh mắt sáng và sống lưng thẳng như cây tùng. Cha nó thuộc về một thế hệ mang lý tưởng giữ gìn miền Nam, một thế hệ chọn chữ “trách nhiệm” làm lẽ sống. Rồi tháng Tư năm ấy, đất trời sụp đổ. Người ta bắt cha nó buông súng, và cũng từ đó, bắt luôn cả tuổi xuân, cả tự do của người cha.

Cộng sản đày cha nó ra tận Sơn La — cái tên mà mỗi lần cha nó nhắc đến, giọng cha nó lại chùng xuống như có gì đó vĩnh viễn nằm lại nơi ấy. Rừng thiêng nước độc, nơi sương mù phủ kín đỉnh núi quanh năm, nơi muỗi rừng và sốt rét rình rập từng thân người. Hơn 9 năm trong những trại tù mà họ gọi bằng cái tên mỹ miều “cải tạo”. 9 năm đôi bàn tay từng quen với bản đồ và quân lệnh phải cuốc đất, phá rừng, gánh đá.

Cha nó kể,  phần ăn mỗi ngày chỉ là vài củ sắn sượng, một nắm hột bắp mốc, mà bụng thì cồn cào như có lửa đốt. Đói đến mức người tù phải nhặt cả những đọt rau rừng, con cào cào, con dế mèn để cầm hơi. Đói đến mức có người bạn tù của cha nó, ăn cả trái bả đậu để vượt qua cơn đói, sáng còn gọi nhau dậy đi lao động, chiều đã không gượng nổi mà nằm xuống sàn cầu xí vì cơn tiêu chảy hành hạ sau khi ăn trái bả đậu, tối đến người bạn tù mắt nhắm lại giữa cơn sốt rét cuối cùng. 

Và chính đôi bàn tay cha nó — đôi bàn tay từng cầm súng giữ nước — đã cầm lấy chiếc cuốc, lặng lẽ đào huyệt chôn người đồng đội ngay bên triền rừng âm u ấy. Không một vòng hoa. Không một tiếng kèn. Chỉ có nắm đất đỏ và những giọt nước mắt nuốt ngược vào trong, vì khóc lớn cũng là một thứ xa xỉ mà người tù không được phép. Cha nó bảo, mỗi lần lấp đất cho một người bạn, là một lần cha nó tự hỏi không biết ngày mai có ai lấp đất cho mình. Vậy mà cha nó vẫn sống. Vẫn gắng sống. Bởi ở quê nhà, có một người vợ và một đàn con đang ngày đêm ngóng đợi.

Cha nó trở về với mái tóc đã điểm bạc trước tuổi, với đôi bàn tay chai sần, nhưng đôi mắt vẫn không hề van xin ai một điều gì. Ngày về, không có quân hàm, không có chức phận, chỉ còn một người chồng, một người cha với đàn con nheo nhóc và một mái nhà dột nát. Và thế là đôi bàn tay từng cầm súng, từng đào huyệt chôn bạn nơi rừng sâu ấy, nay ghì lấy càng chiếc xe xích lô.

Mười năm trời. Nó nhớ lại — mười năm còng lưng trên chiếc yên xe, dưới cái nắng miền Nam chói chang như đổ lửa. Mười năm tấm lưng cha nó gò xuống, ướt đẫm mồ hôi, từng thớ thịt căng ra đạp ngược những con dốc giữa trưa hè bỏng rát. Mặt đường nhựa nóng đến mức bốc hơi, hắt lên rát cả mặt người. Cha nó đạp xe dưới mưa, dưới nắng, đạp từ tờ mờ sáng đến khi đèn đường đã lên.

Người đời nhìn cha nó, họ thấy gì? Họ thấy một thằng cu li đạp xích lô. Một gã phu xe đen đúa, áo rách lưng còng, một kẻ tay chân đen đúa không một mảnh giấy lận lưng. Có những người khách ngồi ngoảnh lưng lại cha nó mà chẳng buồn nhìn mặt, có kẻ còn buông lời sai khiến, mặc cả từng đồng như mặc cả với một thân phận thấp hèn. 

Họ đâu biết — họ đâu thể biết — người phu xe đang gò mình kéo họ đi kia từng là một sĩ quan đứng thẳng dưới lá quân kỳ, từng chỉ huy cả một đơn vị, từng đọc sách thánh hiền và mang trong tim một lý tưởng lớn hơn cả mạng sống mình. Cái nhìn khinh miệt của người đời, cha nó nuốt vào lòng như đã từng nuốt ngược nước mắt nơi rừng Sơn La. 

Cha nó chẳng bao giờ thấy nhục. Bởi mỗi đồng bạc lẻ cha nó mang về, nhàu nát và thấm mồ hôi, là một bữa cơm, là một quyển vở, là một ngày con được tiếp tục đến trường. Người lính ngày xưa không gục trong trại tù, thì nay cũng quyết không để đàn con thất học giữa cảnh nghèo.

Rồi cánh cửa nước Mỹ mở ra theo diện nhân đạo. Cánh cửa mà cha đã trả giá bằng cả 9 năm tù đày. Nó cứ ngỡ sang đến miền đất hứa, cha sẽ được nghỉ ngơi. Nhưng không. Ở cái tuổi lẽ ra phải an dưỡng, cha nó lại lao vào những nhà xưởng, đứng dây chuyền, bưng bê, lau dọn, với đồng lương tối thiểu và thứ tiếng Anh chắp vá.

Nó không bao giờ quên những buổi sáng mùa đông xứ người. Trời còn tối đen, tuyết phủ trắng xóa, cái lạnh cắt da cắt thịt mà người miền nhiệt đới như cha nó chưa từng quen. Cha nó lái chiếc xe cũ kỹ mua lại bằng những đồng tiền dành dụm — chiếc xe già nua đến mức mỗi sáng phải khấn vái mới chịu nổ máy. Rồi có những đêm tuyết giá, trên con đường vắng tanh, chiếc xe ấy chết máy giữa đường, nằm ì ra như một con vật kiệt sức. 

Cha nó đứng đó, một mình giữa trời tuyết, hai bàn tay tê cóng run rẩy lật từng nắp máy, hơi thở phả thành khói trắng, trong lúc cái lạnh thấu xương và bóng đêm vây quanh. Cha nó về đến nhà, đôi tay đỏ ửng nứt nẻ, nhưng vẫn mỉm cười bảo với nó: “Không sao, ba quen rồi.”

Khi ấy nó đâu hiểu hết hai chữ “quen rồi” ấy nặng đến nhường nào. Cha nó già đi từng ngày trong im lặng, chẳng một lời than. Tất cả, chỉ để anh em  nó được bước vào giảng đường đại học — nơi mà chính cha đã phải bỏ dở vì chiến cuộc, vì tù tội, vì cả một đời dâng hiến cho những điều lớn hơn bản thân mình.

Và rồi cái ngày ấy đã đến. Ngày nó đứng trên bục, đội chiếc mũ tốt nghiệp, tay nâng tấm bằng đại học danh giá. Nó đưa mắt tìm cha giữa đám đông. Cha nó ngồi đó, trong bộ áo vest đã cũ, đôi bàn tay chai sần đặt lên đầu gối. Và lần đầu tiên trong đời, nó thấy người lính ấy khóc. Những giọt nước mắt lăn trên gò má hằn vết thời gian — không phải nước mắt của yếu đuối, mà là nước mắt của một đời người cuối cùng đã thấy hạt giống mình gieo trong gian khó nở thành hoa.

Trong giây phút ấy, nó chợt hiểu ra một điều mà nó sẽ mang theo đến hết cuộc đời. Người đời có thể gọi cha nó là thằng cu li đạp xích lô. Người đời có thể bảo cha nó là kẻ dốt nát, không một tấm bằng. Nhưng họ đã lầm. Tấm bằng nó đang cầm trên tay đây, ghi tên nó, nhưng không phải của nó. Nó là tấm bằng của xương máu pha lẫn mồ hôi & nước mắt người cha. Bao nhiêu năm nó đèn sách, là kết tinh của mấy mươi năm cha nó còng lưng dưới nắng. Cái mũ tốt nghiệp nó đội trên đầu, được dệt nên từ những đêm cha nó run rẩy giữa trời tuyết. 

Cái học vị cao nhất ở xứ người mà nó đạt tới ấy, thật ra chính là học vị của một người cha chưa từng được ngồi giảng đường — người đã viết luận án của đời mình không phải bằng mực, mà bằng mồ hôi, bằng nước mắt, bằng cả máu thịt mình suốt mấy mươi năm. Cha nó không có bằng cấp, nhưng cha đã tốt nghiệp trường đời với tấm bằng cao quý nhất: tấm bằng của lòng hy sinh.

Người ta thường nói đến những vị anh hùng trong sử sách. Nhưng với nó, anh hùng là người đã nhiều lần đứng dậy từ đống tro tàn của đời mình — là người lính giữ nước, là người tù đào huyệt chôn bạn mà vẫn không gục ngã, là người phu xe mười năm còng lưng nuôi con giữa những lời khinh miệt, là người công nhân già lặng lẽ giữa trời tuyết xứ người — mà chưa một lần để lòng tự trọng và tình thương phai nhạt.

Cha nó là người lính trọn đời không phản bội lời thề với tổ quốc. Là người chồng chưa một ngày buông tay người vợ tào khang giữa cơn hoạn nạn. Là người cha đã đem cả cuộc đời mình lót đường cho các con đi tới.

Mùa Father’s Day này, nó không còn được mua tấm thiệp nào cả. Nó chỉ còn biết cúi đầu, quỳ xuống trước mộ người cha và lặng lẽ thốt lên: 

“Con cảm ơn cha”

-Father Day 2026-

From: Tu-Phung


 

CÁCH MẠNG MUÔN NĂM.

Thái Bá Tân Vt 

CÁCH MẠNG MUÔN NĂM.

Trích đoạn truyện ngắn: (NHỮNG NGƯỜI ĐÀN BÀ TẮM) của Thiết Ngưng (chủ tịch hội nhà văn Trung Quốc) về cách mạng văn hóa Mao ít.

… Một ngày mùa thu năm 1966, Khiêu mới là học sinh lớp 1, được dự đại hội phê đấu rất ồn ào náo loạn diễn ra ở sân trường …

Cứ từng đợt từng đợt học sinh lại giơ cánh tay non nớt, từng đợt từng đợt hô rất mạnh mẽ những khẩu hiệu như: “đả đảo con đĩ Đường Tân Tân” là cô giáo của trường, dạy toán bậc trung học phổ thông. Khiêu còn nghe những bạn nam bàn luận ở phía sau, chẳng nhẽ cô giáo ấy lại là một con đĩ sao?

Cô giáo Tân bị mấy nữ học sinh dẫn lên sân khấu, trước ngực viết mấy hàng chữ bằng mực đen: “Tôi là một con đĩ”… dòng chữ làm Khiêu ghê người, trong ý niệm của cô bé, con đĩ không chỉ là xấu xa mà còn là xấu xa nhất trong những người xấu xa, xấu hơn cả địa chủ, nhà tư bản. Khiêu nghĩ không hiểu một người lớn lại tự nhận “tôi là một con đĩ” nhỉ ?

Cô giáo Tân chừng 30 tuổi, da trắng, người gầy, quá gầy và trắng, cắt tóc ngắn và sống mũi cao, trông như một cây tăm… Cô đúng là một cây tăm mà không phải là cây dương liễu, bởi trông cô mảnh mai nhưng cứng rắn, cô như cây tăm cắm trên mặt bàn, mấy nữ học sinh lớp trên cứ xô đẩy nhưng cô vẫn không chịu quì mà cũng không cúi đầu… Khiêu có phần đồng tình với cô giáo Tân bởi cô đẹp. Đẹp, chỉ thế thôi.

… chợt có một phụ nữ trạc tuổi trung niên mặc áo cánh xẻ tà mầu mỡ gà lên sân khấu, xỉa xói vào cô giáo Tân:

– “Gọi mày là con đĩ oan ức lắm à? tao hỏi mày, mày đã lấy chồng chưa? Mày chưa bao giờ lấy chồng, mày chưa lấy chồng mà đã có con, thế thì mày ngủ với ai? khai thật ra”.

Tiếng hô khẩu hiệu lại vang lên:

“Mụ Tân phải khai ra! không khai thì thầy giáo và học sinh cách mạng sẽ không tha!”…

Một học sinh nam lớn tuổi đi vòng ra phía sau cô giáo Tân đạp mạnh vào khuỷu chân cô giáo, cô giáo “hự” lên một tiếng rồi ngã quỵ xuống. Cả sân trường hoan hô, vậy là cái cô giáo chết cũng không chịu quỳ đã bị bọn học sinh lớn khuất phục. Đại hội phê đấu tiếp tục, mấy giáo viên trẻ thay nhau lên phát biểu, chỉ trích gay gắt cô giáo Tân đã giấu giếm chuyện quan trọng trong cuộc sống riêng, lừa dối để được đồng nghiệp tin tưởng, nhà trường tín nhiệm, học sinh tin yêu. Các em học sinh hãy nghĩ xem, một sự việc ghê tởm biết chừng nào, một phụ nữ suy đồi về đạo đức, tác phong xấu xa như thế mà có thể là cô giáo… Tiếng hô khẩu hiệu lại vang lên: – “Mụ Tân phải cút khỏi trường, không cút thì những người kế tục sự nghiệp cách mạng của nhà trường sẽ không tha!”… “còn nữa, hàng xóm của mụ còn phản ánh, ở trường mụ Tân giả bộ giản dị, ở nhà thì sống theo lối sống của giai cấp tư sản, mụ nuôi mèo, đối với mèo còn tốt hơn đối với người, có hôm mụ ta dám ngồi ngoài sân ôm con mèo, hôn hít nó! trời đất ơi, hôn mèo!”

Cả sân trường cười ồ lên, tiếp theo là khẩu hiệu tỏ ra phẫn nộ hơn: “đả đảo con đĩ Tân Tân”

Những cái xấu của cô giáo Tân càng nói càng nhiều, chỉ bắt cô quỳ nghe khẩu hiệu thôi thì chưa đủ. Nhất là khuôn mặt gầy, trắng trẻo kia tỏ vẻ đối địch, nhất định không nói điều gì càng làm cho những người trên sân khấu thêm phần nộ khí xung thiên. Một học sinh nam lớn tuổi gí ngay chiếc giầy lính hắn đang đi vào mặt cô giáo và nói:

–  “Mèo của giai cấp tư sản mày còn hôn, chẳng nhẽ mày không hôn giầy của giai cấp vô sản hay sao!”

Hắn vừa nói vừa gí giày vào mặt cô giáo. Một nữ sinh đến gần ấn đầu cô giáo xuống, bắt cô áp miệng vào chiếc giày của thằng kia; rất nhiều cái chân cùng giơ ra, bắt cô giáo phải áp miệng vào những chiếc giầy đầy bụi bẩn.

Cả sân trường sôi sục, trên sân khấu người đứng lố nhố. Học sinh ngồi dưới cũng không trật tự nữa, chúng xô đẩy, có đứa trèo lên ghế, có đứa chen nháo nhào lên sân khấu để xem cho rõ…

Bỗng có mùi thối, không hiểu ai đã đem đến 1 ca phân. Chỉ nghe có tiếng nói:

– “Quá lắm, mụ Tân không chịu hôn giầy của chúng ta, mồm mụ chỉ xứng đáng ăn cứt! Đúng, đúng… bắt mụ phải khai thành thật , không khai phải ăn cứt!”

Phân xuất hiện làm cả sân trường trật tự trở lại, mùi thối làm mọi người ngơ ngác. Đúng là phân được đựng vào ca uống nước đưa lên sân khấu đã kích thích dây thần kinh sâu nhất trong cơ thể con người. Sức uy hiếp của phân đã lên đài như thế.

Những người chen đến sát sân khấu bỗng lùi lại, những người đứng trên ghế ngồi cả xuống. Giống như một vở diễn, bắt đầu mở màn người xem còn nhốn nháo, khi vở diễn đến hồi gay cấn thì mọi người cùng chăm chú thưởng thức. Bắt cô giáo ăn phân có thể là hồi gay cấn của đại hội phê đấu này.

Ca phân đặt trước mặt cô giáo Tân, chỉ cách cô chừng 1 mét. Vẫn khuôn mặt trắng trẻo. Mọi người chờ cô khai báo thành thật, vì cớ gì mà không nói…

Trái tim Khiêu như có ai bóp chặt, nó cứ mong cho cô giáo nói ngay ra, như thế cô giáo không phải ăn phân. Nhưng nhiều người không nghĩ như Khiêu, bon họ không muốn cô giáo khai báo. Khi mọi người phải lựa chọn khai báo và ăn phân thì bọn họ muốn không phải là thấy người kia khai báo, mà muốn thấy người đó ăn phân.

Cô giáo không nói mà cũng không chịu ăn. Lúc này có 1 một thằng học sinh lớn đến nói với cô giáo Tân:

– “Nếu mụ không chịu khai báo, không chịu ăn cứt thì chúng ta còn có cách khác, lẽ nào quần chúng cách mạng  lại chịu thua con đĩ này, chúng ta điệu đứa con gái của mụ lên đây cho mọi người thấy, cho mọi người trông thấy đứa con gái của mụ, bằng chứng cho hành động đĩ thõa tội lỗi của mụ ta”.

Cô giáo Tân không còn giữ nổi bình tĩnh nữa. Khiêu thấy cô lê bằng đầu gối đến trước ca phân, cô không chờ cho tiếng hò hét đinh tai nhức óc của bọn người kia tắt đi mà đi đến quyết định dứt khoát, để lại cho Khiêu một ấn tượng suốt đời không thể quên. Cô giáo quì gối bưng ca phân lên, nhìn vào trong ca một lúc, rồi trước mặt mọi người, đưa lên ăn…

Khiêu về nhà, việc đầu tiên là đánh răng súc miệng, tưởng như phải dùng hết ống kem đánh răng. Đánh răng làm Khiêu nôn ọe, nôn ọe rồi lại đánh răng. Đánh răng xong, Khiêu đưa nhẹ cái bàn chải vào họng cho nôn thốc nôn tháo. Khiêu nôn ra thức ăn, cuối cùng là nước nhờn. Nôn xong lại đánh răng, hai tay bịt mũi bịt miệng, bịt thật chặt, hà hơi thật mạnh. Rồi Khiêu cũng yên tâm trong miệng mình sạch sẽ, sạch như kem đánh răng. Khiêu lấy khăn lau miệng, lau đi lau lại, miệng đỏ lên, bật cả máu, đau cả miệng… Khiêu ở trong nhà vệ sinh rất lâu…

(Copy từ: Lê Tích).


 

Sẽ có hơn 70,000 người dự lễ Tuyên Chân Phước Cha Trương Bửu Diệp

Ba’o Nguoi-Viet

June 22, 2026

CÀ MAU, Việt Nam (NV) – Dự trù sẽ có hàng chục ngàn người đổ về tham dự đại lễ Tuyên Chân Phước Linh Mục Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp (Cha Trương Bửu Diệp) tại Trung Tâm Hành Hương Tắc Sậy, xã Phong Thạnh, tỉnh Cà Mau, với sự hiện diện của đại diện cấp cao Tòa Thánh Vatican vào ngày 2 Tháng Bảy sắp tới.

Lễ Chân Phước hay Chân Phúc, còn gọi là Á Thánh, là danh hiệu của Giáo Hội Công Giáo Rome trao cho một người qua đời, công nhận họ đã sống thánh thiện, đang hưởng hạnh phúc thiên đàng và có khả năng chuyển cầu. Đây là giai đoạn ba trong tiến trình phong Thánh của Giáo Hội: Tôi tớ Chúa-Đấng Đáng Kính-Chân Phước-Hiển Thánh.

Trung Tâm Hành Hương Tắc Sậy ở xã Phong Thạnh, tỉnh Cà Mau, nơi diễn ra đại lễ Tuyên Chân Phước Cha Trương Bửu Diệp. (Hình: Chúc Ly/VnExpress)

Nói với báo VnExpress hôm 22 Tháng Sáu, Linh Mục Phêrô Vũ Văn Hài, tổng đại diện Giáo Phận Cần Thơ, trưởng Ban Tổ Chức, cho biết Thánh Lễ do Đức Hồng Y Luis Antonio G. Tagle, quyền tổng trưởng Bộ Loan Báo Tin Mừng của Tòa Thánh Vatican, chủ trì. Hàng chục giám mục cùng đông đảo linh mục, tu sĩ, giáo dân trong và ngoài Giáo Phận Cần Thơ dự kiến tham dự.

Theo Cha Phêrô Vũ Văn Hài, công tác chuẩn bị đang được hoàn tất. Lễ đài, đường nội bộ, khu truyền thông, y tế, vệ sinh và hệ thống thông tin liên lạc đang được gấp rút hoàn thiện.

Khu vực nhà thờ Tắc Sậy và phần mộ Cha Trương Bửu Diệp có sức chứa khoảng 25,000 người, được lắp màn hình LED, hệ thống âm thanh và nhà rạp.

Khu đất rộng khoảng 5 hécta đối diện nhà thờ được bố trí thành quảng trường cùng các khu vực phụ cận, có thể đón khoảng 47,000 người. Các khu vực đều có mái che, màn hình và âm thanh để người dân tham dự theo dõi nghi thức từ xa.

Giáo dân trong Giáo Phận Cần Thơ cũng chuẩn bị hơn 40,000 suất ăn sáng miễn phí cho khách hành hương.

Ngoài ra, một bệnh viện dã chiến cùng các trạm y tế vệ tinh được bố trí phục vụ đại lễ. Lực lượng y tế, lính cứu hỏa và bảo vệ túc trực trong thời gian diễn ra sự kiện.

Theo báo Thanh Niên, lần đầu tổ chức tại Việt Nam, lễ tuyên phong Chân Phước cho Cha Trương Bửu Diệp mang ý nghĩa đặc biệt với giáo dân Công Giáo ở Việt Nam.

Tiểu sử Cha Trương Bửu Diệp do một giáo dân vẽ tặng, được đặt trang trọng trong Trung Tâm Hành Hương Tắc Sậy. (Hình: G.B/Thanh Niên)

Những ngày này, khu vực Trung Tâm Hành Hương Tắc Sậy bắt đầu nhộn nhịp hơn thường lệ. Từ sáng sớm, nhiều người đã tìm đến thăm viếng, cầu nguyện, hỏi thăm thông tin về Thánh lễ.

Theo Linh Mục Giuse Võ Văn Hoài, chánh sở Họ Tắc Sậy, cha Trương Bửu Diệp không chỉ được người Công Giáo yêu mến, mà còn được nhiều người ngoài Công Giáo tìm đến cầu nguyện.

Việc đến nay mới có một lễ Tuyên Phong Chân Phước tại Việt Nam, ngoài lý do lịch sử, còn vì tiến trình này rất chặt chẽ và cần nhiều thời gian dài để kiểm chứng, giống như một công trình chắc chắn thì cần phải được thử thách qua thời gian trước khi được công nhận.

“Sự kiện này tôn vinh một người Việt Nam đã sống một cuộc đời phi thường vì người khác,” Linh Mục Hoài nói. (Tr.N) [kn]


 

Elon Musk, tỷ phú ngàn tỷ ‘bệnh hoạn’ nhất thế giới

Ba’o Nguoi-Viet

June 22, 2026

Trúc Phương/Người Việt

Sau khi được niêm yết trên thị trường chứng khoán Nasdaq ngày 12 Tháng Sáu với mức khởi điểm $135, cổ phiếu SpaceX hiện vọt lên $185, nâng tổng vốn hóa thị trường của SpaceX xấp xỉ $2.44 ngàn tỷ và biến Elon Musk thành tỷ phú ngàn tỷ đầu tiên trong lịch sử. Tuy nhiên, ông tỷ phú ngàn tỷ không chỉ giàu nhất thế giới mà khối “tài sản” khổng lồ của Musk còn chứa đầy ắp nguồn tư duy bệnh hoạn.

Hình ảnh Elon Musk, sáng lập viên và tổng giám đốc của SpaceX, trên thị trường chứng khoán Nasdaq hôm 12 Tháng Sáu, 2026, ở thành phố New York. (Hình: Spencer Platt/Getty Images)

Musk đứng đâu trong “văn minh nhân loại”?

Xét bất kỳ góc độ nào, có thể thấy SpaceX hoàn toàn không ảnh hưởng gì đến cuộc sống thường nhật mà con người đang trải qua. Nó không giúp giảm thuế, không giảm giá xăng, không “phụ” được việc đóng tiền điện và không “trợ cấp” được học phí đại học. SpaceX chỉ là công ty chế tạo hỏa tiễn và tàu vũ trụ. Không thể không thừa nhận Elon Musk là thiên tài kinh doanh nhưng ông là người bán hàng giỏi chứ không phải nhà phát minh.

Trong suốt sự nghiệp, thứ Elon Musk “bán chạy” nhất là ý tưởng và ông rất thành công trong lĩnh vực này. Bất luận thế nào, cũng thấy sự vô lý của việc SpaceX mang lại vị thế tỷ phú ngàn tỷ cho Musk. Cần biết, trong hồ sơ IPO (Initial Public Offering, phát hành cổ phiếu lần đầu), SpaceX chỉ nhấn mạnh những tham vọng tương lai chẳng hạn “khai thác tiểu hành tinh,” thúc đẩy du lịch vũ trụ và “lan tỏa ánh sáng ý thức đến các vì sao.” Nói cách khác, SpaceX chỉ “bán” tương lai và nhiều người sẵn sàng mua thứ mà họ chưa biết mặt mũi như thế nào.

Việc “lan tỏa ánh sáng ý thức đến các vì sao” chưa thấy đâu, chỉ thấy thế giới có thể tối tăm hơn khi Musk nắm trong tay tiền muôn bạc vạn, và dùng tiền để thao túng bầu cử cũng như lũng đoạn xã hội thông qua những ý tưởng chủng tộc quái đản mà đương sự thường xuyên gieo rắc.

Chưa từng có nhân vật nào, ít nhất ở thời đương đại, vừa có thể kiến tạo tương lai bằng kỹ thuật và công nghệ vừa góp phần phá hủy đời sống con người hiện tại theo cách như Musk. Xét ở góc độ đạo đức, những kỹ thuật tiến bộ mà Musk mang lại, nếu có, hoàn toàn không có chút giá trị so với những gì mà Musk phá hủy, khi ông kích động sự thù hằn và chia rẽ ở mức độ sâu sắc chưa từng có. Tài sản càng nhiều thì sự xấu xí đạo đức của Musk càng nhiều gấp bội.

Nếu không kể Trump, nước Mỹ từ khi xuất hiện Musk ngày càng hỗn loạn. Tháng Mười, 2022, sau khi Paul Pelosi – chồng của cựu Chủ tịch Hạ viện Nancy Pelosi (Dân Chủ-California) – bị hành hung dã man ngay tại nhà riêng ở San Francisco, Musk chia sẻ bài viết từ một trang web ít tên tuổi.

Bài viết nói rằng kẻ tấn công là một nhân vật nam hành nghề mại dâm và vụ việc bắt nguồn từ cuộc tranh cãi trong lúc say xỉn giữa Paul Pelosi và nhân vật trên. Cần nói thêm, trang web mà Musk dẫn lại chính là nơi, hồi cuộc bầu cử tổng thống 2016, từng đăng rằng ứng cử viên Hillary Clinton đã “ngủm củ tỏi” từ đời tám hoánh và người tranh cử với Trump chỉ là “một Hillary đóng thế.”

Tháng Tám, 2023, sau khi đổi tên Twitter thành X, Musk liên tục lan truyền luận điệu sai lệch rằng người da trắng ở Nam Phi là nạn nhân của nạn diệt chủng. Vài tháng sau, Musk so sánh tỷ phú Do Thái George Soros (vốn nổi tiếng với các hoạt động từ thiện và cổ xúy dân chủ toàn cầu) với Magneto – một siêu ác nhân trong vũ trụ Marvel. Musk, với khoảng 125 triệu người theo dõi trên X, cho rằng Soros căm ghét nhân loại và “muốn phá hoại nền tảng văn minh.”

Cho đến nay, Musk vẫn gieo rắc điều này. Năm 2025, chatbot AI Grok trên X tự động thông báo cho người dùng rằng “người da trắng” ở Nam Phi “là mục tiêu tấn công vì lý do chủng tộc.” Cần nhắc lại, Musk rất nhiệt tình ủng hộ những dối trá của Trump về kết quả bầu cử năm 2020, cho rằng máy bỏ phiếu có vấn đề, bộ máy tranh cử của Joe Biden đi ăn cắp phiếu lúc nửa đêm, và hầu hết cuộc bầu cử tại Mỹ đều gian lận do tình trạng người nhập cư không giấy tờ hợp pháp tham gia bỏ phiếu.

Với vô số hậu quả để lại khi phá hoại nước Mỹ trong cương vị người đứng đầu cái gọi là “Cơ Quan Hiệu Quả Chính Phủ” (Department of Government Efficiency – DOGE) vào những ngày đầu nhiệm kỳ hai của Trump, Musk đáng phải bị xử và “bóc lịch” với án chung thân nhưng Musk không hề hấn gì. Giữa Tháng Sáu, chính quyền Trump vẫn bảo vệ Musk trong vụ kiện công ty trí tuệ nhân tạo của đương sự, xAI, gây ô nhiễm các khu dân cư Bắc Mississippi (Bộ Tư Pháp đề nghị tòa án liên bang bác đơn kiện). Không chỉ vậy, chính phủ Mỹ cũng là khách hàng lớn nhất của SpaceX. Doanh thu SpaceX từ các hợp đồng chính phủ đạt khoảng $4 tỷ trong năm 2025.

Trong thế giới của Musk, “các bạn” không có chỗ!

Một trong những sự việc mà Elon Musk hiện quan tâm nhiều nhất là vụ một người nhập cư Sudan tấn công tàn bạo một người Anh tại Belfast (Bắc Ireland) vào trung tuần Tháng Sáu. Sự kiện xảy ra ở Anh nhưng Musk biến nó thành “vấn đề của thời đại.” Musk lợi dụng vụ việc để một lần nữa “cảnh báo”: Người da trắng trên toàn thế giới phải dùng bạo lực để khuất phục kẻ thù không phải da trắng, trong cuộc chiến tổng lực mang tầm vóc đa châu lục và khốc liệt chẳng khác gì ngày tận thế, nhằm giành quyền thống trị chủng tộc toàn cầu.

Từ khi xảy ra vụ Belfast, Musk liên tục bày tỏ loạt ý kiến mang đậm tư tưởng phát xít và chủ nghĩa thượng đẳng da trắng. Khi một chính trị gia cực hữu người Anh kêu gọi truy tố các quan chức đã “đưa những kẻ man rợ nguy hiểm từ thế giới thứ ba vào cộng đồng chúng ta,” Musk đáp: “Đây chính là con đường đúng đắn.” Năm 2025, khi ví những người nhập cư không phải da trắng tại Vương Quốc Anh với loài “orc” – những quái vật nguy hiểm, phi nhân tính trong truyện “Chúa tể những chiếc nhẫn,” Musk nhấn mạnh: “Nếu trở thành thiểu số, người da trắng chúng ta sẽ bị tàn sát.”

Tại Mỹ, Musk cũng áp dụng thủ pháp quen thuộc, khi lợi dụng một vụ án do một cá nhân thuộc nhóm thiểu số gây ra để khẳng định rằng hành động đó bộc lộ bản chất sát nhân bẩm sinh của toàn bộ nhóm người đó. Luôn khuếch đại tiếng nói của các chính trị gia cực hữu đòi thanh trừng những người đến từ “thế giới thứ ba,” Tháng Chín, 2025, Musk kêu gọi: “Hoặc quý vị phản kháng, hoặc quý vị sẽ chết.”

Ủng hộ “Reconquista” (Tái Chinh Phục – giai đoạn từ năm 711 đến 1492, khi các vương quốc Kitô Giáo trên bán đảo Iberia, nay là Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha, từng bước giành lại lãnh thổ từ các vương quốc Hồi Giáo), Musk khuếch đại một trong những khẩu hiệu chủ chốt của phe cực hữu, rằng muốn cứu vãn văn minh phương Tây, nhất thiết phải cưỡng chế trục xuất một lượng lớn người nhập cư, thậm chí cả con cháu họ. Nói cách khác, người nhập cư không phải da trắng đang mặc nhiên bị coi là kẻ xâm lược đe dọa “nền văn minh phương Tây” ở bất cứ nơi nào họ đến, từ New Zealand, Anh đến “nhiều tiểu bang” của Mỹ.

Một cách tổng quát, nếu lịch sử thế giới từng chôn vùi chủ nghĩa phân biệt chủng tộc và thế hệ đương đại không còn nhớ “màu sắc cổ điển” của chủ nghĩa phát xít như thế nào thì Musk đang gợi lại tất cả điều đó. Ben Tarnoff, đồng tác giả cuốn “Muskism: A Guide for the Perplexed” phát hành vào Tháng Tư, 2026, nói rằng “tầm nhìn của Musk về thế giới hoàn toàn đi ngược lại tinh thần nhân đạo. Lòng trắc ẩn giúp con người kết nối với nhau bất chấp khác biệt. Điều đó lại là mối đe dọa lớn đối với viễn kiến của Musk.”

Tarnoff nói thêm, trong thế giới tương lai mà Musk hướng tới, “đại đa số nhân loại sẽ bị gạt ra khỏi ‘quy trình sản xuất.”

Gần đây, Musk bóng gió, “dù chuyện gì xảy ra, chúng ta có tàu vũ trụ, còn họ thì không.” Ám chỉ này thể hiện chính xác sự cực đoan của Musk, trong đó công nghệ được sử dụng để củng cố và thắt chặt các hệ thống phân cấp toàn cầu, đồng thời bảo vệ những người “được chọn” để đưa nhân loại tiến về phía trước, tách biệt họ khỏi đám đông bị coi là thứ có thể loại bỏ.

Điều đáng sợ nhất là một kẻ mang tư tưởng phát xít như Musk lại đang nắm quyền kiểm soát một kênh thông tin có ảnh hưởng lớn đến cách giới chính trị gia, báo chí, và đặc biệt người dân bình thường, hiểu về các sự kiện toàn cầu. Không phải tự nhiên mà ngày càng có nhiều người tin và củng cố quan niệm mang tính phát xít về “tinh thần quốc gia” và chủ nghĩa dân tộc, trong bối cảnh họ luôn cảm thấy sự nguy hiểm rình rập từ mối đe dọa bị bao vây bởi “bọn người” không cùng chủng tộc. Sự “trớ trêu thời đại” ở chỗ, có không ít kẻ trong “bọn người” nói trên lại luôn xem Musk là “thánh sống.” [kn]


 

TÔI ĐI BỆNH VIỆN – TG: Chu Thị Hồng Hạnh

 Xuyên Sơn

TÔI ĐI BỆNH VIỆN

(Tôi rất hy vọng bài viết này của tôi sẽ được ai đó làm trong bệnh viện Bình Dân đọc được)

Sau 6 tháng nằm nhà uống thuốc tan sỏi thận vì sợ con Corona Vũ Hán, cũng đến lúc phải đi siêu âm lại rồi.

Cầm kết quả siêu âm ghi rõ sỏi niệu quản 13 li, thận ứ nước độ 2 (6 tháng trước viên sỏi còn nằm trong thận phải, giờ nó rớt xuống niệu quản) tôi gọi điện thoại cho rất nhiều người để tư vấn rồi chốt với chồng:

” Phải đi Bình Dân thôi anh à!, anh nghĩ coi một ngày mà mổ 100 con gà, thì tay nghề sẽ tốt gấp trăm lần 10 ngày mới mổ một con”

Vợ chồng dắt nhau đi khám ở khu dịch vụ công nghệ cao, vì nghĩ rằng trả tiền nhiều thì sẽ được ưu tiên và chăm sóc tốt hơn.

Vào đến nơi mới biết mình bé cái nhầm, khi nhìn người bệnh nhiều như quân Nguyên ngồi chật kín khắp nơi.

Sau 2 ngày làm hết các loại xét nghiệm, chụp X quang, chụp CT, siêu âm tim, đo điện tim và hẹn với bác sĩ sẽ mổ nội soi vào ngày thứ hai đầu tuần (15 tháng 6)

vợ chồng ra về, chồng còn hào hứng nói:

“Nếu chỉ ở có một ngày trong bệnh viện thì mổ xong mình xin về nhà luôn”.

Sáng 15 tôi dậy lúc 5 giờ, nấu một bát cháo loãng ăn theo lời khuyên của bác sĩ rồi theo chồng vào bệnh viện, người còn khỏe mạnh tươi tỉnh nên vào chào bác sĩ mổ rồi đi đến phòng xếp hồ sơ ngồi chờ.

8h00 cô điều dưỡng xuất hiện dắt cả đoàn chừng chục người leo cầu vượt sang bên khu phẫu thuật.

Vào phòng thấy rất đông bệnh nhân ngồi và 3 cô y tá đang sắp xếp các loại hồ sơ.

Một lúc một cô lanh lảnh gọi:

“Chu thị Hồng Hạnh”

– Có tôi đây

– Có bị tiểu đường không?

– Cô không bị tiểu đường, chỉ bị huyết áp cao.

– Đề nghị bệnh nhân hỏi gì nói nấy nhá!

– Có bị huyết áp cao không?

– Thì cô vừa mới nói cô bị huyết áp cao mà.

Tôi ngồi im re nhìn những người khác bị kêu tên đi bổ sung hồ sơ do bác sĩ dặn không kỷ nên người thì chưa xét nghiệm máu, người thì chưa chụp CT,

người thiếu siêu âm tim…

Khoảng một tiếng sau, hộ lý tới gom chừng chục người chúng tôi sang căn phòng khác (gọi là phòng chờ), trong đó cả đàn ông đàn bà đã ngồi kín trên các giường rồi dặn chúng tôi chờ, khi nào kêu tên thì vào phòng mổ.

Cô phát cho mỗi người một bộ quần áo bệnh nhân và một con dao cạo râu rồi chỉ vào cái nhà vệ sinh bé tí xíu kêu chúng tôi tự xử. Tôi trợn tròn mắt nhớ lại cách đây 20 năm sinh mổ con gái ở bệnh viện Từ Dũ thì việc này là hộ lý làm cho chúng tôi mà.

Tiền xét nghiệm đã hết hơn 2 triệu, tiền mổ đã đóng tạm ứng 17 triệu mà lại khổ thế này.

Vào bên trong không sữa tắm, không xà bông gì hết nên ai cũng phải hì hụi chừng 20 phút đến nửa tiếng mới chui ra.

Nằm sát cạnh tôi là một chị ốm yếu, xanh xao vì phải đi từ Kiên Giang lên từ lúc 10 giờ đêm và chưa hề ăn chút gì, chị kêu chóng mặt quá.

Tôi bảo chị nói người nhà đi mua cho viên kẹo ngậm tạm đi. Giường sát bên một bà lão hơn 80 tuổi than thở rằng tháng nào cũng phải lặn lội từ quê lên Sài Gòn thay ống nhựa trong người, nếu có 30 triệu đặt ống kim loại thì mang đến lúc chết nhưng 7 đứa con đều nghèo rớt không gom đủ tiền cho mẹ nên thân già đành chịu khổ.

Nhìn xung quanh toàn những khuôn mặt khắc khổ, nhợt nhạt vì mệt.

Đúng lúc đó Zalo,Viber của 2 người đàn ông ré lên, thế là họ say sưa bật loa ngoài tám chuyện ầm ầm.

Tôi mấy lần nhắc họ đừng nói to cho bà con cô bác nghỉ trước khi mổ nhưng họ cứ lờ tịt đi.

Cửa phòng thỉnh thoảng mở ra, hộ lý gọi tên mấy người đã nằm chờ từ hôm thứ sáu tuần trước (hôm nay là thứ hai) đi trước.

Rốt cuộc cũng gọi tới tên tôi.

Tôi mừng hụt vì lại bị đưa vào phòng khám gặp bác sĩ chỉ để hỏi khi leo cầu thang có bị mệt không.

Sau khi trả lời rằng:

“nếu vừa leo vừa nghỉ tôi có thể leo được 20 tầng”

thì cô y tá lúc trước nói:

– Giờ bệnh nhân đi về phòng chờ nghỉ ngơi đi

– Thôi con cho cô ngồi tạm phòng này chứ về đấy cô vỡ tung đầu vì nghe điện thoại, phòng chừng 15 mét vuông mà nhốt đến hơn 20 người

– Tại bệnh nhân đông quá, bệnh viện quá tải, đang xây bệnh viện mới đấy cô.

Ngồi lủi thủi một góc, chờ đến 12 giờ hộ lý tới kêu (Bên ngoài chồng tôi cũng chờ từ 8h sáng)

“Bệnh nhân Chu thị Hồng Hạnh”

Tôi mừng rỡ xách túi đồ mang ra cửa giao cho chồng, cả đôi dép, điện thoại với cặp kính cũng bị tháo ra đưa nốt.

Tôi tròng cái mũ ni lông lên đầu, xỏ chân vào hai bịch ni lông rồi mò mẫm đi theo hộ lý vì mắt tôi một bên mù, một bên cận 6 độ không có kính nhìn gì cũng nhòe. Tôi ngồi chừng mười phút thì thấy có người vỗ nhẹ vào vai rồi cười

” Chị Hồng Hạnh phải không, chút xíu nữa tôi mổ cho chị”

Tôi mừng quá cảm ơn rồi thấy người ấy biến nhanh như cơn lốc.

Bệnh viện quá tải, bệnh nhân đông, phòng mổ thiếu.

Bệnh nhân của bác sĩ nào khám thì bác sĩ ấy mổ.

Tôi ngồi chờ mãi.

Thỉnh thoảng lại có người tới ngồi bên cạnh, người thì sỏi 9 mm, người 15 mm, họ đều được kêu tên vào phòng mổ còn tôi cứ ngồi trơ trọi một chỗ.

Đến khi thấy lâu quá tôi đành liều hỏi mấy giờ rồi và giật mình khi biết là đã 2 giờ chiều (chồng tôi vẫn chờ bên ngoài và nghĩ khoảng 45 phút sẽ đón tôi về phòng nghỉ hồi sức như lời bác sĩ nói).

Tôi lại quờ quạng đi thẳng ra cửa, mấy cô hộ lý la lên

– Cô đi đâu đấy, ai cho cô ra ngoài

– Cô chỉ nói với chồng cô một câu thôi

(Suốt 6 tiếng mà chồng tôi vẫn chờ trước phòng mổ, chỉ đứng và đi đi, lại lại vì không có chỗ ngồi để chờ kêu người nhà bệnh nhân..)

Tôi đẩy cửa ra và kêu

– Anh ơi họ vẫn chưa mổ cho em, anh đi ăn uống vệ sinh đi.

Rồi đóng ngay cửa vào nhưng cũng kịp nghe được tiếng chồng tôi

“Trời ơi là trời! anh khát nước và mắc tiểu từ sáng đến giờ “

Tôi lại lê bước về chỗ cũ, tiếp tục ngồi chờ, khoảng 20 phút sau, một cô y tá mập mạp, trắng trẻo kéo cái xe nhỏ ra,cô bảo tôi. 

– Cô đưa tay ra đây

Sau đó buộc ga rô cổ tay tôi lại, tôi không biết làm gì nên hỏi

– Làm gì hả con?

– Lấy ven

– Có đau không?

Chỉ hỏi có vậy thôi mà cô sừng sộ, tháo ngay garo ra rồi hất tay tôi.

– Thôi không làm cho cô nữa, tí vào phòng mổ làm.

Tôi điếng người, chị bệnh nhân kế bên giải thích

“Lấy ven để chút nữa cắm ống truyền dịch chị à!”

Nói xong, cô y tá lấy ven cho chị và không thèm nhìn tôi lấy một cái.

Sau khi chị ấy vào phòng phẫu thuật thì một người đàn ông khác lại tới ngồi bên cạnh.

Cô kia lại đến lấy ven, tôi mới chìa tay ra giải thích

– Con làm cho cô đi, mấy hôm trước cô bị lấy máu xét nghiệm liên tục nên cô đau quá mới hỏi con vậy thôi!

Cô ta lạnh lùng

– Không, cô chờ vào phòng phẫu thuật mà lấy.

Rồi quay sang lấy ven cho bệnh nhân kia.

Huyết áp tôi bắt đầu lên.

Ông trời ơi! tôi đã nộp cho các người cả đống tiền mà các người cư xử với tôi như vậy à?

Tôi uất ức muốn bỏ về luôn thì một người y tá khác ra dẫn tôi vào gian mổ.

Hỏi giờ đã gần 4 giờ rồi.

(vậy là tôi vào đây ngồi đã gần 4 tiếng rồi).

Cô bác sĩ gây mê nói chuyện rất nhẹ nhàng, tình cảm, tôi nói:

– Con làm ơn đo huyết áp giúp cô, cô thấy không ổn rồi.

– 170/110 cô

– Con báo lại cho bác sĩ giúp cô nhé, bình thường nếu uống thuốc rồi huyết áp cô chỉ khoảng 135/85 thôi.

Cô bác sĩ vừa chích thuốc tê vừa nói

– Cô cứ yên tâm, bác sĩ sẽ biết cách xử lý.

Chừng 2 phút sau  khi chân tôi tê cứng lại và mất hết cảm giác thì bác sĩ xuất hiện và bắt đầu mổ, vừa làm bác sĩ vừa hỏi

– Chị làm nghề giáo hả?

– Trước kia tôi là giáo viên.

– Tại tôi thấy cách nói chuyện của chị nên đoán vậy.

Tôi nhìn lên màn hình thấy có cái gì giống như mũi khoan đang nhắm thẳng vào viên sỏi của tôi bắn nát ra rồi sau đó máu ra đỏ kín màn hình.

Ca mổ từ lúc bắt đầu cho đến kết thúc kéo dài chừng 10 phút.

Sau khi cột vào tay tôi cái bịch nilon có mấy miếng sỏi lụn vụn họ đẩy tôi về cuối dãy nằm cạnh những người đã mổ xong để theo dõi.

Khoảng 30 phút sau khi ngón chân tôi bắt đầu nhúc nhích thì một cô điều dưỡng đến kéo giường tôi đi.

Vừa ra đến cửa cô gọi to:

“Người nhà Chu Thị Hồng Hạnh đâu”

Chồng tôi vừa chạy tới chạm tay vào cáng băng ca thì cô lôi tôi như tên bắn, quẹo phải, quẹo trái, vào thang máy, xoay vòng vòng rồi lại quẹo tiếp, bảo chồng tôi đẩy, còn cô thì kéo lên cầu vượt sang khu bên kia đường,

(Tôi là người ngồi máy bay qua vùng thời tiết xấu, lộn nhào đủ kiểu cũng không sao) giờ đây tôi thấy chóng mặt, quay cuồng, buồn nôn quá.

Tôi kêu lên với chồng:

“Em mắc ói quá”

Vừa kịp vào phòng, chồng tôi đưa cho cái bịch nilon tôi ói ra mật xanh, mật vàng, toàn nước.

Sau khi dặn dò chồng tôi cách đổ nước tiểu cô y tá đi ngay

(Lúc này đã đúng 5h30).

Phòng rộng 10 mét vuông kê được 2 cái giường giá 1.1 triệu đồng /giường/ngày.

Giường bên cạnh là của một bệnh nhân nam, sỏi có 5 li nhưng vì đau nên phải mổ.

Cứ khoảng nửa tiếng thì phải đi đổ nước tiểu một lần nhưng từ 10 giờ rưỡi đêm thì chồng tôi nói nước tiểu không chảy ra nữa.

Tôi bảo:

-Thôi anh leo lên giường ráng nghỉ ngơi chút đi.

Hai vợ chồng xếp chặt cứng trên giường, đến 2 giờ sáng tôi lay chồng:

-“Anh đi gọi y tá đi, bụng em cứng lại rồi”

Chồng tôi dụi mắt đi 2 lần liền đều quay về nói không tìm thấy ai.

– Anh đi nữa đi em chịu hết nổi rồi!

Tôi năn nỉ

Lại đi.

Lần này y tá tới chỉ cho cách mở túi để thông khí thì tôi mới tiểu được.

Hơn 3 giờ dịch truyền hết.

Tôi lại lay:

“Anh ơi! dịch truyền hết rồi”

Chồng tôi ngái ngủ làu nhàu

– Anh mới chợp mắt được, để yên cho anh ngủ

– Anh gỡ ra đi không máu nó chảy ngược ra này

Chồng tôi rướn người kéo bình dịch truyền xuống.

6 giờ sáng y tá vào chích thuốc cho tôi.

Sau đó máy điện thoại báo có tin nhắn.

Là Bác sỹ Phạm Ngọc Thắng chúc mừng Sinh nhật.

Tôi lấy cái tay còn đang cắm một mớ kim run run bấm mấy chữ cảm ơn anh.

7 giờ một cô điều dưỡng vào tịch thu remote máy lạnh, bắt mở toang cửa thông thoáng để hưởng ứng lời kêu gọi của UBND phòng trừ dịch CoViD

(Thật nực cười, tiết kiệm điện thì có).

Sau đó bác sĩ của bệnh nhân giường bên đến khám rồi cho làm thủ tục xuất viện.

Một lúc sau đến lượt bác sĩ của tôi đến khám và cũng cho tôi được xuất viện sau khi chích mũi cuối cùng lúc 11 giờ.

Hẹn tái khám rút ống trong người tôi ra sau 1 tháng (ngày 15 tháng 7).

Buổi tối hôm trước có người khách của bệnh nhân giường bên cạnh nói cho tôi biết, bệnh viện Bình Dân quá tải, chất lượng phục vụ rất kém nên cứ khám ở Bình Dân nhưng thỏa thuận với bác sĩ đến mổ ở bệnh viện khác vì tay nghề của bác sĩ Bình Dân rất cao.

Tôi mà biết trước thì tôi đã không khổ sở thế này.

Xuất viện, chồng tôi xin chứng từ để làm thanh toán với Bảo hiểm (tôi mua bảo hiểm Bảo Việt) Nhân viên văn phòng nói:

“Bệnh viện phải giữ lại tất cả hồ sơ của bệnh nhân, sao chú không photo lại trước đi”

– Các phiếu chỉ định của bác sĩ và kết quả siêu âm, xét nghiệm bên bảo hiểm họ điều yêu cầu phải có.

(Chồng tôi nói)

– Vậy chú phải làm đơn xin trưởng khoa đề nghị cấp bản pho to và đóng 30 ngàn chiều mai chú đến lấy.

Về nhà, hôm sau chồng tôi xem lại chi tiết thanh toán rồi nói.

-Cái chỗ mà em ngồi chen chúc mấy tiếng chờ đó họ tính nửa ngày 240 ngàn đồng, còn giường em nằm từ 5h30 chiều hôm trước đến 11 giờ trưa hôm sau họ tính một ngày rưỡi là 1.65 triệu đó.

Đi buôn cái gì mà lời bằng mở bệnh viện ở Việt Nam?

Nhưng thôi. Chỉ cần 10, 20 năm nữa chẳng may em lại bị đi bệnh viện thì chỉ mong khi người ta gọi người nhà bệnh nhân… là thấy anh, thế là được rồi.

Già cũng được, chậm cũng được, lẫn cũng được, lầu nhàu cũng được. Miễn là còn nhìn thấy nhau.

TG: Chu Thị Hồng Hạnh


 

Cha Tùng Lương Dòng Chúa Cứu Thế Chia sẻ

Mình đọc các văn bản của Tòa Thánh và Quy chế Sách lễ Rôma, việc rước lễ thông thường là trên miệng, còn tùy HĐGM. địa phương định liệu phương cách khác, ví dụ trên tay... Cho nên mình không từ chối ai xin rước lễ trên miệng, nhất là các dịp lễ lớn như Giáng Sinh, hành hương ở các trung tâm... nơi rất đông người thuộc tôn giáo khác trà trộn vào thường dễ sinh ra nguy cơ phạm thánh.

Tin tức:

Toà Thánh nhắc nhở 2 Giám Mục Argentina vì từ chối cho giáo dân Rước Lễ bằng miệng
Ngày 13/05/2026, nguồn tin thân Vatican đưa tin Thánh bộ Phụng tự và Kỷ luật Bí tích của Toà Thánh đã sửa sai và nhắc nhở 2 Giám Mục Argentina rằng các tín hữu có toàn quyền Rước Lễ bằng miệng và quỳ, không được bắt buộc ai phải Rước Lễ bằng tay, sau khi nhận được tin giáo quyền 2 giáo phận của 2 Giám Mục này hạn chế hoặc cấm các tín hữu Rước Lễ theo hình thức đó.
2 Giám Mục đó là Tổng Giám Mục Marcelo Colombo của tổng giáo phận Mendoza, chủ tịch Hội Đồng Giám Mục Argentina, và Giám Mục Gabriel Barba của giáo phận San Luis.
Thánh bộ Phụng tự khẳng định: các tín hữu được tự do nhận Thánh Thể theo các hình thức được Giáo Hội thiết lập, và quyền đó không thể bị giới hạn. Các hình thức hợp pháp là đón nhận Thánh Thể bằng miệng hoặc bằng tay, khi đứng hoặc quỳ.
Việc can thiệp của Toà Thánh xảy ra sau những tranh cãi lớn từ tháng 09/2025. Cụ thể, vào thời gian trên, TGM Colombo yêu cầu rằng “ở Argentina, chỉ được Rước Lễ đứng và bằng tay”. Sau đó, tại Vương cung Thánh đường San Francisco ở Mendoza, một cha dòng Phan Sinh đã quát một nhóm giáo dân “Đứng lên” khi những người này cố tình quỳ để Rước Lễ. Nhóm giáo dân đó chấp nhận đứng lên, trừ 1 người, và cuối cùng người quỳ này bị từ chối ban Thánh Thể.
Ở giáo phận San Luis, Đức cha Gabriel Barba yêu cầu tất cả các thừa tác viên Thánh Thể phải Rước Lễ bằng tay để làm gương cho các giáo dân, và yêu cầu giáo dân hạn chế Rước Lễ bằng miệng. Giám Mục tiền nhiệm của giáo phận này lại là người hết sức khuyến khích Rước Lễ bằng miệng.
Tổng Giám Mục Colombo giải thích rằng quy định của ngài tuân theo những hướng dẫn trong sách lễ Rôma và quyết định của Hội Đồng Giám Mục Argentina, Toà Thánh bác bỏ và nhấn mạnh rằng mọi quy định không được trái nghịch huấn thị chung của Hội Thánh, được quy định trong Redemptionis Sacramentum.
Những diễn biến này xảy ra trong lúc tranh cãi giữa những người theo chủ nghĩa truyền thống và hiện đại vẫn xung đột nhau: những người gắn bó với truyền thống đang cảm thấy bị loại trừ và phân biệt đối xử khi muốn Rước Lễ theo hình thức cổ là quỳ và Rước Lễ bằng miệng.
Trong quá khứ, Toà Thánh cũng đã nhiều lần cố bảo đảm quyền Rước Lễ bằng tay và bằng miệng cho các tín hữu. Năm 2004, trong huấn thị Redemptionis Sacramentum của Thánh bộ Phụng tự nói: “mỗi tín hữu luôn có quyền Rước Lễ trên lưỡi. Thật không phải phép khi từ chối cho Rước Lễ với bất kỳ tín hữu Chúa Kitô nào chỉ vì những lý do như người đó muốn rước Thánh Thể khi quỳ hay đứng.” Huấn thị này tiếp nối chỉ dẫn của huấn thị Memoriale Domini năm 1969, trong đó cho phép Rước Lễ bằng tay như một đặc quyền ban thêm trong khi vẫn duy trì Rước Lễ bằng miệng như hình thức thông thường phổ quát.
Trường hợp ở Argentina là phản chiếu tình hình rộng lớn hơn đang diễn ra trên thế giới, trong đó nhiều Hội Đồng Giám Mục và Giám Mục địa phương, thậm chí cha xứ, đã thiết lập những quy tắc giới hạn quyền của tín hữu trái với luật Hội Thánh. Dĩ nhiên Đấng bản quyền địa phương có thể đưa ra những hướng dẫn đời sống đạo cho các tín hữu thuộc quyền mình, nhưng không thể cấm những điều luật chung Hội Thánh cho phép.
Ở Việt Nam, nhiều nơi cũng đang áp đặt hình thức Rước Lễ bằng tay (cấm Rước Lễ miệng) dù Toà Thánh luôn cho phép tín hữu tuỳ chọn Rước Lễ bằng tay hoặc bằng miệng tuỳ cảm thức. Hy vọng các Đấng bản quyền và các cha xứ suy nghĩ lại để tuân thủ đúng đắn hơn các chỉ dẫn của Toà Thánh.
Theo Catholic Herald
Gioakim Nguyễn biên dịch

Cải chính của Đức TGM Marcelo Daniel Colombo

Desmienten una “reprimenda” del Vaticano y en San Luis también consideran  falsa la versión | DePolítica

TGM Daniel Colombo                                             GM Gabriel Barba

Hôm thứ Hai , Tổng Giám mục Mendoza, Marcelo Daniel Colombo , đã lên tiếng bác bỏ một cách dứt khoát, thông qua hãng thông tấn Công giáo Argentina AICA, một phiên bản lan truyền trên mạng xã hội và các trang web liên kết với thế giới Công giáo, cho rằng Vatican đã khiển trách ông và Giám mục San Luis, Gabriel Barba , vì những hạn chế được cho là đối với các tín hữu muốn rước lễ quỳ và bằng lưỡi.

Về tình hình tại Mendoza (thực tế ở địa phương):

⚠️ Đã có tranh cãi và một số thực hành hạn chế trước đây

⚠️ Chưa thấy công bố rõ ràng rằng giáo phận đã chính thức sửa luật địa phương

👉 Nhưng sau khi Vatican lên tiếng, việc cấm là không còn hợp với luật chung của Giáo hội

Chọn cờ và chợt nhớ ‘hồn mê mẩn tỉnh chưa, chưa tỉnh’!

Ba’o Tieng Dan

19/06/2026

Người ViệtTrân Văn

Chuyện một phụ nữ Ba Lan gốc Việt, cô Tôn Vân Anh, cầm trên tay quốc kỳ Việt Nam Cộng Hòa, xuất hiện trong tấm ảnh mà Newsweek Polska (Tuần Báo Ba Lan) chụp bốn phụ nữ với bốn lá cờ khác nhau vì có nguyên quán khác nhau và sử dụng để minh họa cho bài “Vì sao thế giới ngưỡng mộ Ba Lan?” đã khuấy động dư luận cộng đồng người Việt tại Ba Lan.

Cô Tôn Vân Anh cùng với cuốn sách cô viết về Việt Nam cho người Ba Lan, bằng tiếng Ba Lan. (Hình: Facebook Tôn Vân Anh)

Trên Uwaga – trang facebook có tên Người Việt ở Ba Lan – không ít người chỉ trích Tôn Vân Anh là “ba sọc,” là “Cali,” là “chối bỏ quê hương,” thậm chí “phản bội tổ quốc” vì “cờ đỏ có ngôi sao vàng ở giữa là cờ tổ quốc, còn lá cờ hình búa liềm mới là cờ cộng sản.”

Một số người lưu ý, tổ quốc là nơi mình sinh ra, có ghét cộng sản thì cũng đừng ghét cả nơi mình sinh ra. Một số người nhắc nhở, Uwaga là trang dành cho người Việt Nam đang sống tại Ba Lan, không phải là trang để chửi lại nơi mình sinh ra. Cũng có người cảnh cáo, Tôn Vân Anh đang kiếm sống bằng việc phiên dịch và dạy tiếng Ba Lan cho người Việt, thành ra cầm cờ vàng ba sọc đỏ chẳng khác gì “tự vả vào mặt mình.” Có cả những người kêu gọi tẩy chay Tôn Vân Anh hay khuyên cô nên rời khỏi trang Uwaga vì làm như cô đã làm thì “không phải người Việt Nam.”

Ở chiều ngược lại, không thiếu người ủng hộ Tôn Vân Anh. Họ nhấn mạnh, cờ đỏ sao vàng không đại diện cho tổ quốc, không phải tất cả người Việt tại Ba Lan đều theo cộng sản nên không thể nhân danh cộng đồng để khuyên thế này hay phản đối thế kia. Chọn lá cờ nào làm biểu tượng xứ sở của mình là quyền tự do cá nhân.

Người Ba Lan không chỉ oán hận phát xít mà còn căm ghét cả cộng sản bởi cả hai là hai mặt của đồng xu đại diện cho chủ nghĩa toàn trị và bộ máy tẩy não.

Chính nước Đức thời Quốc Xã và Liên Xô đứng đầu khối cộng sản đã bắt tay nhau để xâu xé Ba Lan. Cũng có người mỉa mai, nếu thật sự “yêu nước” thì nên rời Ba Lan về Việt Nam. Hoặc nêu thắc mắc, vì lẽ gì phải tìm đủ cách, kể cả bất hợp pháp, để được sống ở xứ khác mà vẫn “tự hào?”

Có một điểm đáng chú ý là nếu chịu khó đọc kỹ những ý kiến tranh luận xoay quanh chủ đề vừa đề cập, có thể thấy số người chỉ trích Tôn Vân Anh tuy ở Ba Lan nhưng không biết gì về lịch sử xứ sở này cũng như quá khứ của dân tộc này. Chẳng hạn họ vẫn tin Liên Xô đã “giải phóng” Ba Lan khỏi phát xít. May cho họ là phần lớn dân Ba Lan không thể đọc những ý kiến ấy!

***

Tuy bị đặt dưới sự kiểm soát của thể chế cộng sản trong 45 năm (1944-1989) nhưng dân Ba Lan không “biết ơn” cộng sản. Có lẽ những người Việt sống tại Ba Lan không biết rằng, năm 1939, Liên Xô đã bắt tay với Đức Quốc Xã. Theo Hiệp Ước Molotov-Ribbentrop, Đức Quốc Xã tấn công Ba Lan từ phía Tây, còn Liên Xô tấn công Ba Lan từ phía Đông.

Trong cuộc tấn công ấy, Liên Xô đã bắt khoảng 22,000 người là thành phần tinh hoa của Ba Lan (sĩ quan quân đội, giáo sư, luật sư, kỹ sư, bác sĩ, giáo sĩ), giải họ về Liên Xô và giết toàn bộ 22,000 người này rồi chôn ở các ngôi một tập thể, trong đó có Katyn gần Smolensk. Năm 1943, Đức Quốc xã phát giác những ngôi mộ tập thể này, Liên Xô phủ nhận. Đến năm 1990, sau khi giải mật mới thừa nhận và xin lỗi.

Hè 1944, Liên Xô thực hiện chiến dịch Bagration, đẩy quân Đức Quốc Xã đến bờ Đông sông Vistula, đối diện thủ đô Warsaw, cách Warsaw chỉ vài trăm mét đến vài cây số. Đó là lý do khiến lực lượng kháng chiến Ba Lan nổi dậy, chiếm lại Warsaw từ tay Đức Quốc Xã. Tuy nhiên Hồng Quân Liên Xô án binh bất động để Đức Quốc Xã dọn dẹp giúp thành phần có thể gây trở ngại cho kế hoạch dựng lên một  chính quyền Ba Lan thân cộng sản. Kết quả, sau hai tháng Liên Xô “tọa sơn, quan hổ đấu,” khoảng 25,000 kháng chiến quân Ba Lan hy sinh, khoảng 200,000 thường dân bị giết, Warsaw gần như thành bình địa. Đến lúc đó Hồng Quân Liên Xô mới tiến lên để đẩy lùi Đức Quốc Xã khỏi lãnh thổ Ba Lan và dựng lên cái gọi là Ủy Ban Giải Phóng Dân Tộc Ba Lan.

Không phải tự nhiên mà cả chính phủ lẫn luật pháp Ba Lan xếp chủ nghĩa phát xít và chủ nghĩa cộng sản vào chung một rọ, xem cả hai là các chế độ độc tài, toàn trị tàn bạo đã chà đạp độc lập dân tộc của họ.

Điều 13 của Hiến Pháp Ba Lan nghiêm cấm sự tồn tại của các đảng chính trị và các tổ chức áp dụng các phương pháp và thực tiễn hoạt động toàn trị của chủ nghĩa phát xít và chủ nghĩa cộng sản. Từ 1989 đến nay, Ba Lan liên tục sửa luật hình sự để biến việc truyền bá bất kỳ tư tưởng cộng sản nào thành tội phạm. Tại Ba Lan, trưng ra một lá cờ đỏ có hình búa liềm, hoặc mang các phù hiệu, biểu tượng cộng sản Liên Xô ở nơi công cộng, bị cảnh sát bắt là may mắn vì không ai dám chắc, đương sự có còn sống tới khi cảnh sát xuất hiện hay không!

***

Cộng đồng người Việt tại Ba Lan là một trong những cộng đồng người nước ngoài đáng kể tại Ba Lan. Phía Ba Lan ước đoán có khoảng 25,000 đến 30,000 người, trong đó có khoảng 3,000 người đã trở thành công dân Ba Lan. Tuy nhiên theo ước tính của các tổ chức cộng đồng và Đại Sứ Quán Việt Nam thì số người Việt sống tại Ba Lan khoảng 40,000 người đến 60,000 người.

Lịch sử di cư của người Việt sang Ba Lan bắt nguồn từ con đường học hành và hợp tác kinh tế giữa hai nước XHCN cũ và được mô tả là đã trải qua ba giai đoạn chính.

Giai đoạn đầu (thập niên 1950 – thập niên 1980) chỉ có trí thức và du học sinh, họ không quay về Việt Nam khi chế độ cộng sản ở Ba Lan sụp đổ.

Giai đoạn thứ hai (thập niên 1990 – thập niên 2000) là thời điểm Ba Lan chuyển dịch sang nền kinh tế thị trường, mở ra cơ hội kinh doanh tự do rất lớn và hàng vạn người Việt từ trong nước, cũng như những người Việt từ các lân bang như Nga, Đức, Czech đổ đến Ba Lan kiếm sống qua các quầy bán vải, quần áo tại các khu chợ ngoài trời, rồi các trung tâm thương mại, quán ăn.

Giai đoạn 3 (từ thập niên 2010 đến nay), cộng đồng người Việt thế hệ trước đó đã ổn định và sở hữu các doanh nghiệp lớn, có nhu cầu tuyển dụng nhân lực và Ba Lan rơi vào tình trạng thiếu hụt lao động phổ thông và kỹ thuật, làn sóng di cư mới hình thành, cung cấp nhân công cho các dịch vụ và công nhân.

Giống như nhiều quốc gia thuộc khu vực Đông Âu từng bị đặt dưới chế độ cộng sản, Ba Lan đang chuyển mình và đạt được nhiều thành tựu. Nếu cứ “biết ơn” thủ phạm và mãi “tự hào” về những thứ ngớ ngẩn sẽ không thể chạm tới những thành tựu ấy.

Một trong những thành tựu mà người Việt hưởng sái là Ba Lan đã trở thành quốc gia tạo ra công việc để cho. Còn những người Việt “kính bác, yêu đảng” thì đang tìm đủ mọi cách, kể cả sử dụng những phương thức phi pháp, thậm chí thảm hại nhất để được dự phần.

Theo dõi cuộc tranh luận trên Uwaga, đột nhiên kẻ viết bài này nhớ đến “Đề Tỉnh Quốc Dân Ca” hay còn gọi là “Á Tế Á Ca” từng được lưu truyền tại Việt Nam nửa đầu thế kỷ 20: “Hồn mê mẩn, tỉnh chưa, chưa tỉnh?”

“Đức hạnh và uy tín của người cha là di sản quý giá nhất của người con.”- Cha Vương

Chúc bình an đến bạn và gia đình. Ông Roger Bacon nói: “Đức hạnh và uy tín của người cha là di sản quý giá nhất của người con.” Hãy tiếp tục cầu nguyện cho các người cha trong gia đình nhé. Không quên nguyện cầu cho nhau và thể giới nữa nhé

Cha Vương

Thứ 2: 22/06/2026.       (n20-22)

TIN MỪNG:  Như người cha chạnh lòng thương con cái, CHÚA cũng chạnh lòng thương kẻ kính tôn. (Tv 103:13)

Quà tặng thứ 2 cho người cha yêu quý: Thánh Giuse, vị gia trưởng tuyệt vời

SUY NIỆM: Có thể nói, nơi thánh Giuse hội đủ mọi nhân đức. Phúc âm đã khen Ngài là Đấng công bình, chính trực. Thiên Chúa trao phó cho Ngài làm chủ thánh gia, làm bạn trăm năm Đức Mẹ. Chức vụ càng lớn thì ân sủng Chúa ban xuống cho Ngài càng nhiều. Hơn nữa, sự tiếp xúc thân mật hàng ngày với Chúa Giêsu và Đức Mẹ là một nguồn tăng trưởng thánh đức liên tục cho Ngài, giúp Ngài trở thành một gia trưởng đạo hạnh. Trải qua bao sóng gió, gian nguy, nhưng với niềm tin tuyệt đối vào Thiên Chúa, Ngài đã gìn giữ thánh gia thất được bình an, hạnh phúc.

CẦU NGUYỆN: Lạy Thánh Giuse, vị gia trưởng tuyệt vời! Xin cho các gia trưởng trong gia đình luôn biết lắng nghe Lời Chúa, biết phân định và làm theo Thánh ý Chúa, để đời sống của họ là gương sáng cho gia đình: yêu thương và trách nhiệm. Xin Cha thương nâng đỡ những gia đình nghèo khó, giải gỡ những khúc mắc cho các gia đình đang đau khổ vì mâu thuẫn, bất hòa và đang đứng trước nguy cơ tan vỡ. 

Lạy Thánh Giuse hiển vinh, xin giúp chúng con luôn khôn ngoan và can đảm, biết phân định và làm theo Thánh ý Chúa. Chúng con kêu cầu Thánh Giuse trong tuần cửu nhật này, lại xin ban những ơn cần thiết, giúp chúng con trung thành với bổn phận, và mai sau đạt tới hạnh phúc trường sinh. Amen. 

(Nguồn: MTG Thủ Đức)

1 Kinh Lạy Cha, 3 Kinh Kính Mừng—Cầu nguyện theo ý Đức Giáo Hoàng Phanxicô và cho các người cha trong gia đình.

KINH KHẤN THÁNH GIUSE BẢO TRỢ KHÓ KHĂN: Lạy Thánh Giuse, xưa nay không ai kêu cầu Cha mà vô hiệu. Cha có thần thế trước mặt Đức Chúa Trời đến nỗi người ta có thể nói rằng: “Trên trời Thánh Giuse truyền lệnh hơn là van xin”. Lạy Cha hiền xin cầu bầu cùng Chúa Giêsu cho chúng con. Khi ở thế gian này Cha đã từng là Cha nuôi và là vị bảo hộ trung thành của Chúa Con Chí Thánh, này xin Cha bào chữa cho chúng con bên tòa Chúa. Chúng con trao phó nơi Cha vụ khó khăn này (Nêu ra ý chỉ cầu xin, hoặc tên người cha… ) xin Cha giải gỡ giúp chúng con, để thêm một vinh quang mới và bao nhiêu vinh quang sẵn có của Cha. Lạy Thánh Giuse nhân từ, chúng con tin tưởng, vâng chúng con tin tưởng Cha có thể chấp nhận lời nguyện của chúng con, và giải thoát chúng con khỏi khổ cực ưu sầu mà chúng con đang gặp phải. Hơn nữa, chúng con vững lòng trông cậy. Cha không bỏ qua điều gì giúp cho người sầu khổ kêu cầu Cha. Chúng con sấp mình dưới chân Cha, tha thiết nài xin Cha đoái thương đến những than van khóc lóc của chúng con. Xin Cha lấy tình thương như áo choàng che phủ chúng con và chúc lành cho chúng con. Amen

From: Do Dzung

*********************

Ca Ngợi Thánh Giuse (Lm.Phong Trần) -Vũ Phong Vũ